Chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam đã vươn lên vị trí 51/165 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng 37 bậc so với năm 2016.
Báo cáo tại Đại hội Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 diễn ra ngày 14/8, Cục trưởng Cục Môi trường Hoàng Văn Thức cho biết trong nhiệm kỳ 2020- 2025, ngành Môi trường đã ghi dấu bước chuyển quan trọng, tạo nền tảng vững chắc cho quản lý, bảo vệ môi trường trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
Bằng việc áp dụng nguyên tắc Pareto- tập trung quản lý 20% cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm cao để kiểm soát 80% nguy cơ môi trường, ngành đã chuyển từ thế bị động sang chủ động phòng ngừa, ứng phó sự cố. Hai kế hoạch giám sát trọng điểm đối với các cơ sở rủi ro cao được triển khai, 19 tổ giám sát đặc biệt hoạt động hiệu quả, kết nối chặt chẽ Bộ, Sở, cộng đồng và doanh nghiệp. Nhiều dự án, cơ sở lớn đáp ứng đầy đủ điều kiện môi trường trước khi vận hành, vừa góp phần phát triển kinh tế xã hội vừa bảo đảm kiểm soát phát thải.
Tư duy quản lý mới thể hiện ngay từ khâu lập quy hoạch, thiết kế dự án đầu tư đến giám sát vận hành. Nhiều dự án được rà soát, yêu cầu thay đổi công nghệ, bổ sung công trình phòng ngừa sự cố môi trường. Hệ thống quan trắc môi trường được đầu tư đồng bộ từ trung ương đến địa phương, gồm 135 trạm quan trắc không khí, 145 trạm quan trắc nước mặt tự động và hơn 2.000 trạm của các cơ sở truyền dữ liệu trực tiếp, phục vụ kiểm soát xả thải và cảnh báo sớm.
Tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề, công tác kiểm soát ô nhiễm có nhiều chuyển biến. Đến nay, 94,1% khu công nghiệp hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung, tăng 3,4% so với giai đoạn trước; 31,5% cụm công nghiệp và 16,6% làng nghề đã đầu tư hệ thống xử lý đạt yêu cầu, từng bước hình thành mô hình phát triển gắn với bảo vệ môi trường.
Trong quản lý chất thải, nhiều giải pháp giảm chôn lấp, tăng tái chế, tái sử dụng, hạn chế nhựa dùng một lần đã được triển khai. Các khu liên hợp xử lý chất thải quy mô lớn hình thành ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và nhiều địa phương, 7 nhà máy đốt rác phát điện vận hành. Năm 2024, tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị đạt 97,26%, tỷ lệ chôn lấp giảm xuống 64%; chất thải nguy hại được xử lý đạt 98,06%. Công tác kiểm soát nhập khẩu phế liệu siết chặt, lượng phế liệu tồn tại cảng biển giảm mạnh.
Quản lý chất lượng môi trường cũng được đẩy mạnh, tỷ lệ che phủ rừng duy trì trên 42% trong suốt nhiệm kỳ. Mạng lưới quan trắc không khí mở rộng, theo dõi bụi mịn PM2.5, PM10 tại các điểm nóng. Bộ đã ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 02/CT-TTg về giải pháp cấp bách kiểm soát ô nhiễm nước tại các lưu vực sông, hướng dẫn các địa phương lập kế hoạch quản lý chất lượng nước mặt. Việc xử lý điểm ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật tồn lưu đạt 95%, chỉ còn 13/240 điểm chưa xử lý.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ô nhiễm xuyên biên giới và áp lực tăng trưởng kinh tế, cùng yêu cầu đạt mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, Việt Nam cần đẩy mạnh chuyển đổi sang mô hình phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn và ít phát thải trong đó khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ là động lực then chốt.
Ngành Môi trường xác định quan điểm: bảo vệ môi trường là trụ cột của phát triển bền vững, đặt ngang hàng với kinh tế và xã hội; cần lồng ghép chặt chẽ vào chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên của toàn hệ thống chính trị, mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Mục tiêu nhiệm kỳ 2025- 2030 là chủ động phòng ngừa, kiểm soát, giảm thiểu ô nhiễm; khắc phục suy thoái môi trường; ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu; bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành; nâng cao chất lượng sống; phục hồi hệ sinh thái, góp phần vào phát triển bền vững.
Đến năm 2030, phấn đấu 95% chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý đạt chuẩn; giảm tỷ lệ chôn lấp xuống dưới 50% lượng thu gom; kiểm soát các nguồn bụi, khí thải; từng bước giảm ô nhiễm không khí ở Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và các khu công nghiệp trọng điểm.
Chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam đã vươn lên vị trí 51/165 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng 37 bậc so với năm 2016.



Các cơ chế quốc tế như cơ chế toàn cầu về bù đắp và giảm thiểu carbon trong lĩnh vực hàng không quốc tế (CORSIA) của ICAO, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh Châu Âu cùng các yêu cầu về phát thải trong chuỗi cung ứng đang tạo ra áp lực ngày càng lớn đối với các quốc gia xuất khẩu, trong đó có Việt Nam...
Brussels đang tiến hành cấm sử dụng nguồn tài trợ của Liên minh châu Âu (EU) cho các dự án năng lượng sạch có sử dụng biến tần (inverter) cho điện mặt trời và hệ thống lưu trữ pin đến từ các “quốc gia có rủi ro cao”, mà chủ yếu là Trung Quốc. Theo đó, các nhà phát triển dự án sẽ phải chuyển sang sử dụng các giải pháp thay thế từ châu Âu, nhưng điều này có thể khiến hóa đơn năng lượng và chi phí sản xuất tại châu Âu tăng lên.
Khi nhu cầu điện tăng mạnh dưới tác động của AI, trung tâm dữ liệu và xu hướng điện khí hóa, việc bảo đảm độ tin cậy của hệ thống thông qua các giải pháp đo lường, kiểm định và giám sát kỹ thuật đang trở thành yếu tố then chốt của quá trình chuyển dịch năng lượng...
Việt Nam cùng đại diện các quốc gia thành viên Thỏa thuận Paris đang họp tại Đức để thảo luận nhiều vấn đề về thực hiện mục tiêu khí hậu toàn cầu...
Từ nguồn gỗ rừng trồng tại Gia Lai, viên nén đen đang trở thành sản phẩm giá trị gia tăng cao, góp phần thúc đẩy chuyển đổi xanh và nâng tầm ngành lâm sản địa phương...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.