Tại phiên thảo luận tại hội trường sáng 5/12, các đại biểu Quốc hội đã góp ý các giải pháp về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đến năm 2035.
Đại biểu Vương Thị Hương (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang) đề cập đến đề xuất kéo dài thời gian thực hiện giải ngân vốn ngân sách nhà nước đối với các chương trình mục tiêu quốc gia (xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2025 (bao gồm cả vốn của các năm trước được chuyển nguồn sang năm 2025) đến hết ngày 31/12/2026.
Theo đại biểu, đây là giải pháp cần thiết để địa phương tiếp tục hoàn thành những nhiệm vụ còn dở dang, giảm áp lực giải ngân trong bối cảnh nhiều nội dung, dự án bị chậm do yếu tố khách quan. Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tiễn giai đoạn trước cho thấy việc chỉ kéo dài thời gian thực hiện giải ngân nguồn vốn là chưa đủ để tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế.
Đại biểu phân tích thêm hiện nay nhiều chính sách đã hoàn thành mục tiêu nhưng vẫn còn nguồn vốn. Một số chính sách đã bố trí vốn nhưng không thể triển khai vì không đáp ứng đủ tiêu chí, điều kiện hoặc do chưa có hướng dẫn cụ thể.
Đối với các khoản vốn của các chính sách này dù được kéo dài sang năm 2026 thì khả năng giải ngân vẫn sẽ rất thấp, thậm chí khó giải ngân, dẫn đến lãng phí nguồn lực. Vì vậy, đại biểu Vương Thị Hương kiến nghị có cơ chế linh hoạt hơn để các địa phương chủ động xử lý nguồn vốn không còn khả năng, đối tượng thực hiện theo thiết kế ban đầu.
Cụ thể, đại biểu đề nghị bổ sung quy định “cho phép Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước của các chương trình mục tiêu quốc gia đối với nguồn vốn được phép kéo dài của năm 2025, bao gồm cả phần vốn từ những năm trước chuyển sang”, kèm theo các quy định về nguyên tắc điều chỉnh.
“Cơ chế này sẽ giúp giải phóng nguồn vốn bị đóng cứng ở những dự án không thể triển khai, tăng tính chủ động cho địa phương trong phân bổ, điều chỉnh nguồn lực đối với các dự án, nhiệm vụ có khả năng, điều kiện giải ngân”, đại biểu Vương Thị Hương nêu rõ.
Theo đại biểu Hà Sỹ Đồng, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị, các vướng mắc giai đoạn 2021-2025 đã được nhận diện đầy đủ, đó là thủ tục phức tạp, nhiều tầng nấc, hướng dẫn chậm, phân cấp chưa rõ.
Đại biểu đề nghị phân quyền mạnh cho địa phương trong lựa chọn danh mục dự án, nhất là dự án nhỏ, kỹ thuật đơn giản; đơn giản hóa quy trình đầu tư, quy định rõ trách nhiệm cá nhân, người đứng đầu và cơ chế đánh giá xử lý chậm trễ. Đồng thời cần có vùng an toàn pháp lý để cán bộ dám nghĩ dám làm, phù hợp với tinh thần chỉ đạo bảo vệ cán bộ năng động và sáng tạo.
Đại biểu Hà Sỹ Huân, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên, cũng đánh giá cao cơ chế thực hiện chương trình theo hướng "Trung ương quản lý tổng thể và ban hành cơ chế chính sách, hướng dẫn, giám sát, kiểm tra, phân cấp, phân quyền triệt để". Đồng thời, phân bổ nguồn lực cho địa phương theo tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm và địa phương chịu trách nhiệm”. Tuy nhiên, cơ chế này cần được làm rõ và triển khai triệt để hơn.
Theo đại biểu, tại Khoản 5, Điều 1 và Điều 3 của dự thảo Nghị quyết đã phân cấp cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định phân bổ nguồn lực và tổ chức thực hiện Chương trình.
“Từ thực tiễn, việc phân cấp này thủ tục còn rườm rà, mất nhiều thời gian, làm thiếu tính chủ động cơ sở và khó trong tình trạng đầu tư dàn trải, manh mún, như đã được chỉ ra ở giai đoạn trước.
Các nội dung của chương trình phần lớn đầu tư là hạ tầng kỹ thuật, mô hình phục vụ sinh kế, phục vụ người dân trên địa bàn các xã, thôn. Hiện nay chúng ta thực hiện chính quyền hai cấp, xã đã trực tiếp quản lý địa bàn, nắm rõ đối tượng, điều kiện văn hóa, địa hình, sinh kế của địa phương”, đại biểu phân tích.
Đại biểu đề nghị Quốc hội xem xét điều chỉnh theo hướng cấp xã quyết định tổ chức thực hiện chương trình.
Theo đó, cấp tỉnh giữ vai trò định hướng, kiểm tra, giám sát, hỗ trợ kỹ thuật và thủ tục hành chính, trong đó, trao quyền cho địa phương (Hội đồng nhân dân cấp xã và Ủy ban nhân dân cấp xã) được quyết định danh mục, kế hoạch triển khai thực hiện, mô hình phù hợp theo thứ tự ưu tiên từng giai đoạn.
Ngoài ra, cần xem xét lồng ghép, phối hợp hoặc đồng bộ các hợp phần, các nguồn vốn của chương trình và các dự án trên địa bàn, nhằm tránh việc đầu tư trùng lặp, dàn trải, manh mún, bỏ sót nhiệm vụ.
Sáng 13/6, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng làm việc với TP. Hồ Chí Minh về tình hình phát triển kinh tế - xã hội 05 tháng đầu năm và các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, giải ngân vốn đầu tư công, phát triển nhà ở xã hội, tình hình triển khai xây dựng Dự án Luật Đô thị đặc biệt…
Sau gần 4 thập kỷ mở cửa và đổi mới, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một trụ cột quan trọng, đóng góp mạnh mẽ vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Tuy nhiên, trước bối cảnh toàn cầu đang thay đổi sâu sắc, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết mới nhằm nâng tầm chất lượng dòng vốn đầu tư nước ngoài…
UOB giữ dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2026 ở mức 7%, triển vọng tăng trưởng tiếp tục cho thấy sức chống chịu trước áp lực gia tăng và những biến động bên ngoài. Dù vậy, vẫn cần lưu ý đến lạm phát, tỷ giá và biến động giá năng lượng toàn cầu vẫn có thể tạo áp lực trong thời gian tới...
Lần đầu tiên, đối ngoại được xác định là nhiệm vụ ‘"trọng yếu, thường xuyên" bên cạnh quốc phòng và an ninh. Phát biểu quán triệt Nghị quyết 06-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong kỷ nguyên mới.
Ngày 11/6, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng.
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.