Những năm qua, Nghệ An đã chủ động đón đầu làn sóng đầu tư, nhất là đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhằm mở rộng không gian sản xuất và xuất khẩu. Năm 2025, mặc dù kim ngạch xuất khẩu của tỉnh chưa đạt quy mô lớn so với nhiều địa phương trong cả nước, song điểm đáng ghi nhận là thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng, đa dạng và từng bước tiếp cận các thị trường khó tính.
Theo thống kê, các mặt hàng xuất khẩu của Nghệ An đã có mặt tại trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có nhiều thị trường lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Liên minh châu Âu. Việc thâm nhập được các thị trường này cho thấy năng lực sản xuất và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng của doanh nghiệp trên địa bàn từng bước được cải thiện.
Cơ cấu thị trường xuất khẩu cũng có sự điều chỉnh theo hướng cân bằng hơn, giảm dần sự phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống. Năm 2025, thị trường Trung Quốc chiếm 19,5% kim ngạch xuất khẩu; Hoa Kỳ chiếm 19%; khu vực Đông Nam Á chiếm 15%; Hồng Kông chiếm 9,6%; Hàn Quốc chiếm 9,6%; châu Âu chiếm 7,5%. Việc phân bổ tương đối đồng đều giữa các thị trường giúp hoạt động xuất khẩu của tỉnh linh hoạt hơn trước các biến động về thương mại và chính sách quốc tế.
Cùng với mở rộng thị trường, cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của Nghệ An có sự chuyển biến rõ nét theo hướng gia tăng tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến. Theo thông tin từ Sở Công Thương Nghệ An, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến tăng mạnh từ 1 tỷ USD năm 2020 lên 3,56 tỷ USD năm 2025, chiếm 89% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Xu hướng này phù hợp với định hướng phát triển bền vững, giảm dần xuất khẩu thô và khai thác tài nguyên.
Nhiều nhóm sản phẩm chủ lực đã chuyển từ dạng thô sang chế biến sâu. Trong lĩnh vực khoáng sản, các sản phẩm như bột đá, hạt phụ gia nhựa, đá mỹ nghệ dần thay thế xuất khẩu nguyên liệu chưa qua chế biến. Đối với ngành gỗ, các sản phẩm ván MDF, viên nén năng lượng được mở rộng thị trường. Trong nông nghiệp, nhiều mặt hàng đã được chế biến thành nước ép, sữa, dược liệu, qua đó nâng cao giá trị và khả năng cạnh tranh.
Nhờ định hướng đầu tư bài bản, một số thương hiệu lớn của Nghệ An như TH, Nafoods, Vilaconic từng bước khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế. Các doanh nghiệp này không chỉ đóng vai trò quan trọng trong kim ngạch xuất khẩu, mà còn góp phần lan tỏa mô hình sản xuất gắn với chế biến sâu và phát triển bền vững.
Xuất khẩu tăng trưởng đã tác động tích cực đến phát triển sản xuất công nghiệp và các dịch vụ liên quan, nhất là logistics, vận tải và tài chính. Hoạt động xuất, nhập khẩu cũng đóng góp trực tiếp cho ngân sách Nhà nước, tạo nguồn lực quan trọng cho đầu tư phát triển. Năm 2020, thu ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu của Nghệ An đạt 1.178 tỷ đồng; đến năm 2025 đạt gần 1.981 tỷ đồng, tăng bình quân 9,7% mỗi năm, chiếm trên 7% tổng thu ngân sách của tỉnh, với tổng thu ngân sách năm 2025 đạt 29.211 tỷ đồng.
Trên cơ sở những kết quả đạt được, Nghệ An đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 5 tỷ USD vào năm 2026 và hướng tới 9 tỷ USD vào năm 2030. Đây là những mục tiêu cao, đòi hỏi sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng tăng trưởng xuất khẩu.
Thực tế cho thấy, Nghệ An hiện chưa có nhiều doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài quy mô lớn hoạt động trong các ngành sản xuất có giá trị gia tăng cao. Số lượng doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ còn hạn chế, chưa hình thành được mạng lưới đủ mạnh để tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Một số mặt hàng có lợi thế của tỉnh vẫn phải xuất khẩu thông qua hình thức ủy thác do doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu còn nhỏ về quy mô, hạn chế về năng lực tài chính và thị trường.
Đối với khu vực doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài, phần lớn sản phẩm xuất khẩu mới dừng ở gia công, lắp ráp; nguyên liệu đầu vào chủ yếu nhập khẩu. Tỷ lệ nội địa hóa chỉ đạt từ 25 đến 40%, khiến giá trị gia tăng chủ yếu tập trung ở khâu cuối cùng, chưa hình thành được chuỗi giá trị nội địa hoàn chỉnh.
Bên cạnh đó, chất lượng nguồn nhân lực vẫn là điểm nghẽn trong quá trình nâng cao giá trị xuất khẩu. Theo số liệu từ các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài, lao động phổ thông chiếm tới 90% tổng số lao động, trong khi các công đoạn quan trọng như nghiên cứu và phát triển, thiết kế, kiểm soát chất lượng cao chủ yếu do phía nước ngoài đảm nhiệm. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ mới đạt 28,3%, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng nâng cao hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng của sản phẩm.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, việc tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, phát triển công nghiệp chế biến, công nghiệp phụ trợ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sẽ là những yếu tố then chốt để Nghệ An hiện thực hóa mục tiêu xuất khẩu bền vững trong giai đoạn tới.
Bất chấp bức tranh ảm đạm của thị trường dệt may toàn cầu với những con số sụt giảm kỷ lục từ các cường quốc nhập khẩu, 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu hợp nhất toàn Tập đoàn dệt may Việt Nam tăng 6,5% so cùng kỳ, hoàn thành 46% kế hoạch năm; lợi nhuận hợp nhất tăng 14,4% so cùng kỳ, hoàn thành 55% kế hoạch năm...
Khi lợi thế nhân công giá rẻ dần mất đi, Việt Nam cần chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn và sản xuất thông minh. Các chuyên gia Đức khẳng định: Thay đổi tư duy lãnh đạo và nâng chất nguồn nhân lực là "chìa khóa" để Việt Nam bứt phá trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Trong giai đoạn 2023 - 2025, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 23–24% mỗi năm.Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn, ngành rau quả cần quyết liệt tháo gỡ hai "điểm nghẽn" là sản xuất nhỏ lẻ thiếu chuẩn hóa và tỷ lệ chế biến sâu còn thấp so với tiềm năng...
Từ khâu chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển đến tiêu thụ, thịt gia cầm lưu thông trên toàn địa bàn TP.Hồ Chí Minh sẽ từng bước được nhận diện và truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ số. Mục tiêu nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu truy xuất minh bạch, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm và kiểm soát chất lượng sản phẩm...
Trong bối cảnh nguồn cung ứng và hạ tầng truyền tải phải vận hành chạm ngưỡng giới hạn, tiết kiệm điện không còn là khẩu hiệu mang tính phong trào hay giải pháp ứng phó tạm thời, mà đã trở thành một yêu cầu cấp bách, một "nguồn năng lượng" đặc biệt cần được khai thác một cách thường xuyên và đồng bộ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.