Theo số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý 3 và 9 tháng năm 2025 do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố ngày 6/10, dịch vụ giáo dục các trường ngoài công lập, giá thực phẩm và vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2025 tăng 0,42% so với tháng trước.
Trong mức tăng 0,42% của CPI tháng 9 so với tháng trước, có 10 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, riêng chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm.
Trong 10 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, nhóm giáo dục tăng 2,22%, trong đó giá dịch vụ giáo dục tăng 2,43% do một số trường đại học, trung học dân lập và mầm non tư thục tại một số địa phương điều chỉnh tăng mức học phí năm học 2025-2026, các trường công lập được miễn, giảm và hỗ trợ học phí theo Nghị định số 238/2025/NĐ-CP ngày 3/9/2025 của Chính phủ.
Tăng thứ hai là nhóm giao thông, tăng 0,58%, tác động làm tăng CPI chung 0,06 điểm phần trăm. Trong đó, chỉ số giá xăng tăng 1,85%; dầu diesel tăng 0,71% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong tháng.
Tiếp đến là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,41% làm CPI chung tăng 0,14 điểm phần trăm. Trong đó, thực phẩm tăng 0,49% (tác động làm CPI chung tăng 0,11 điểm phần trăm; lương thực giảm nhẹ 0,01% ; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,39%.
Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,41%. Chủ yếu do các nguyên nhân sau: Giá thuê nhà tăng 0,28% do nhu cầu thuê nhà tăng tại một số địa phương khi bước vào năm học mới; giá điện sinh hoạt tăng 0,30%; giá nước sinh hoạt tăng 0,27% do thời tiết nắng nóng làm nhu cầu tiêu dùng tăng...
Số liệu thống kê cũng cho thấy CPI tháng 9 tăng 2,61% so với tháng 12/2024, tăng 3,38% so với cùng kỳ năm trước.
CPI bình quân quý 3/2025 tăng 3,27% so với quý 3/2024. Bình quân 9 tháng năm 2025, CPI tăng 3,27% so với cùng kỳ năm trước.
Cũng theo Cục Thống kê, trong 9 tháng năm 2025, CPI có 8 tháng tăng và 1 tháng giảm so với tháng trước, chịu tác động bởi quy luật tiêu dùng tăng cao trong dịp lễ, Tết, ảnh hưởng từ giá thế giới (gạo, gas đun, xăng dầu) và giá trong nước (thịt lợn, điện sinh hoạt, vật liệu bảo dưỡng nhà ở, nhà ở thuê).
Cụ thể, CPI tháng 1/2025 tăng cao nhất với mức 0,98% do một số địa phương thực hiện tăng giá dịch vụ y tế và là tháng có Tết Nguyên đán Ất Tỵ nên nhu cầu mua sắm hàng hóa và dịch vụ, đi lại của người dân tăng cao. Sang tháng 2/2025, CPI tăng 0,34% do giá thịt lợn tăng khi thiếu hụt nguồn cung, giá nhà ở thuê tăng khi lượng lớn lao động trở lại thành phố tìm việc sau Tết Nguyên đán. Tháng 3/2025, CPI giảm 0,03% do giá gạo và xăng, dầu giảm.
Từ tháng 4/2025 đến tháng 9/2025, CPI duy trì xu hướng tăng, với mức lần lượt là 0,07%; 0,16%; 0,48%; 0,11%; 0,05% và 0,42% chủ yếu do giá thuê nhà, ăn uống ngoài gia đình, điện sinh hoạt, dịch vụ giáo dục và vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng. Trong 9 tháng năm 2025, bình quân mỗi tháng CPI tăng 0,29% so với tháng trước.
So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 1/2025 tăng cao nhất với 3,63%, tháng 2/2025 tăng thấp nhất với 2,91%, từ tháng 3 đến tháng 9/2025 mức tăng so với cùng kỳ năm trước tương ứng là 3,13%; 3,12%; 3,24%; 3,57%; 3,19%; 3,24% và 3,38%. Tính chung 9 tháng năm 2025, CPI tăng 3,27% so với cùng kỳ năm trước.
Những yếu tố làm tăng CPI 9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước, Cục Thống kê cho biết do chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,3%, tác động làm CPI chung tăng 1,11 điểm phần trăm. Trong đó nhóm thực phẩm tăng 3,59%, tác động làm CPI chung tăng 0,76 điểm phần trăm, chủ yếu do giá thịt lợn tăng 10,1%; mỡ ăn tăng 13,08%; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 3,72%; nhóm lương thực tăng 0,69%.
Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,14%, làm CPI chung tăng 1,16 điểm phần trăm do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng. Bên cạnh đó, chỉ số giá nhóm điện sinh hoạt tăng 7,05% do nhu cầu sử dụng điện tăng cùng với EVN điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân vào ngày 11/10/2024 và ngày 10/5/2025, tác động làm CPI chung tăng 0,23 điểm phần trăm...
Cục Thống kê cũng chỉ ra lạm phát cơ bản tháng 9/2025 tăng 0,2% so với tháng trước và tăng 3,18% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 9 tháng năm 2025, lạm phát cơ bản tăng 3,19% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 3,27% của CPI bình quân chung. Nguyên nhân chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm, điện sinh hoạt, giá dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục là yếu tố tác động làm tăng CPI nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.
Thống kê cũng cho thấy giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 29/9/2025, bình quân giá vàng thế giới ở mức 3.688,38 USD/ounce, tăng 7,90% so với tháng trước. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 9 tăng 6,53% so với tháng trước; tăng 55,4% so với cùng kỳ năm 2024; tăng 45,42% so với tháng 12/2024, bình quân 9 tháng năm 2025 tăng 41,86% so với cùng kỳ năm trước.
Giá đô la Mỹ trong nước diễn biến ngược chiều với giá thế giới. Tính đến ngày 29/9/2025, chỉ số giá đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 97,48 điểm, giảm 0,65% so với tháng trước chủ yếu do Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cắt giảm lãi suất làm đồng đô la Mỹ mất sức hấp dẫn so với các đồng tiền chủ chốt khác.
Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9 tăng 0,30% so với tháng trước do nhu cầu ngoại tệ tăng phục vụ nhu cầu nhập khẩu hàng hóa và yếu tố tâm lý giữ đồng tiền này của người dân trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nới lỏng chính sách tiền tệ; tăng 6,64% so với cùng kỳ năm 2024; tăng 3,98% so với tháng 12/2024; bình quân 9 tháng năm 2025 tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước.



Bất chấp bức tranh ảm đạm của thị trường dệt may toàn cầu với những con số sụt giảm kỷ lục từ các cường quốc nhập khẩu, 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu hợp nhất toàn Tập đoàn dệt may Việt Nam tăng 6,5% so cùng kỳ, hoàn thành 46% kế hoạch năm; lợi nhuận hợp nhất tăng 14,4% so cùng kỳ, hoàn thành 55% kế hoạch năm...
Khi lợi thế nhân công giá rẻ dần mất đi, Việt Nam cần chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn và sản xuất thông minh. Các chuyên gia Đức khẳng định: Thay đổi tư duy lãnh đạo và nâng chất nguồn nhân lực là "chìa khóa" để Việt Nam bứt phá trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Trong giai đoạn 2023 - 2025, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 23–24% mỗi năm.Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn, ngành rau quả cần quyết liệt tháo gỡ hai "điểm nghẽn" là sản xuất nhỏ lẻ thiếu chuẩn hóa và tỷ lệ chế biến sâu còn thấp so với tiềm năng...
Từ khâu chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển đến tiêu thụ, thịt gia cầm lưu thông trên toàn địa bàn TP.Hồ Chí Minh sẽ từng bước được nhận diện và truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ số. Mục tiêu nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu truy xuất minh bạch, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm và kiểm soát chất lượng sản phẩm...
Trong bối cảnh nguồn cung ứng và hạ tầng truyền tải phải vận hành chạm ngưỡng giới hạn, tiết kiệm điện không còn là khẩu hiệu mang tính phong trào hay giải pháp ứng phó tạm thời, mà đã trở thành một yêu cầu cấp bách, một "nguồn năng lượng" đặc biệt cần được khai thác một cách thường xuyên và đồng bộ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.