Số liệu báo cáo và công bố của các tổ chức quốc tế, đất hiếm giữ vai trò chiến lược trong nhiều ngành công nghiệp quan trọng, mới nổi như công nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi năng lượng và công nghiệp quốc phòng với nhu cầu sử dụng ngày càng gia tăng trên thế giới.
Đất hiếm được sử dụng trong các ngành: công nghiệp chip và bán dẫn; nam châm vĩnh cửu; sản xuất chất xúc tác; công nghệ quốc phòng; màn hình và thiết bị hiển thị; nông nghiệp công nghệ cao; hợp kim và vật liệu tiên tiến; tấm pin mặt trời; pin xe điện (EV battery); Robot quân sự và thiết bị tự hành; máy bay không người lái; phương tiện không người lái.
Theo tờ trình của Chính phủ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản được Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng trình Quốc hội ngày 4/11, nhu cầu về đất hiếm dự kiến sẽ tăng mạnh trong thập kỷ tới do sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo và ô tô điện.
Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quyết định liên quan đến hoạt động quản lý, xây dựng chiến lược, quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản chiến lược, quan trọng. Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 10/02/2022 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược địa chất, khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đề ra mục tiêu, quan điểm phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản chiến lược, quan trọng.
Chiến lược địa chất, khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 334/QĐ-TTg ngày 01/4/2023 yêu cầu “Phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến và sử dụng quặng đất hiếm vùng trung du và miền núi phía Bắc một cách đồng bộ, hiệu quả và bền vững; sản phẩm công nghiệp sau chế biến phù hợp với trình độ công nghệ, nhu cầu thị trường, đảm bảo hiệu quả kinh tế- xã hội, môi trường...”.
Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024 đã có những quy định về quản lý khoáng sản chiến lược, quan trọng (trong đó có đất hiếm), đã yêu cầu việc khai thác khoáng sản phải lấy hiệu quả kinh tế- xã hội và bảo vệ môi trường làm tiêu chuẩn cơ bản để quyết định đầu tư; khuyến khích các tổ chức, cá nhân có năng lực về vốn, công nghệ, thiết bị tham gia đầu tư khai thác khoáng sản; điều tiết nguồn thu từ khoáng sản để bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
Tuy nhiên, đất hiếm hiện nay là một loại hàng hóa đặc biệt, tạo ra ảnh hưởng lớn đến quốc phòng, an ninh, ngoại giao trên toàn thế giới dẫn đến yêu cầu phải có những cơ chế quản lý chặt chẽ đối với các hoạt động có liên quan đối với loại hình khoáng sản này.
Theo Bộ trưởng, việc bổ sung các quy định riêng về quản lý, chế biến và sử dụng đất hiếm là một trong những giải pháp quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước, tạo động lực thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản đất hiếm một cách đồng bộ, hiệu quả và bền vững. Điều này cũng giúp mang lại lợi ích thiết thực cho đất nước trong bối cảnh thế giới đang thiếu hụt nguồn cung đất hiếm như hiện nay.
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung 1 Chương gồm 4 Điều về quản lý đất hiếm, trong đó quy định chính sách chung của Nhà nước đối với đất hiếm; Chiến lược quốc gia về đất hiếm; Quy định về dự trữ khoáng sản và bảo vệ khoáng sản đất hiếm; Quy định về hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản đất hiếm. Trong đó, bổ sung các chế tài, cơ chế quản lý chặt chẽ đối với các hoạt động có liên quan đối với loại hình khoáng sản này.
Cụ thể, dự thảo luật nêu rõ: “Đất hiếm là tài nguyên chiến lược đặc biệt. Hoạt động điều tra, đánh giá, thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng đất hiếm phải tuân thủ chiến lược quốc gia về đất hiếm, quy hoạch, kế hoạch về đất hiếm để tài nguyên đất hiếm được bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả gắn yêu cầu phát triển bền vững kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước".
Cùng với đó, Nhà nước ưu tiên đầu tư và tổ chức thực hiện điều tra địa chất, đánh giá, thăm dò tài nguyên đất hiếm.
Đất hiếm là tài nguyên chiến lược đặc biệt. Hoạt động điều tra, đánh giá, thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng đất hiếm phải tuân thủ chiến lược quốc gia về đất hiếm, quy hoạch, kế hoạch về đất hiếm để tài nguyên đất hiếm được bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả gắn yêu cầu phát triển bền vững kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến đất hiếm phải được kiểm soát chặt chẽ, không xuất khẩu thô khoáng sản đất hiếm. Chỉ các doanh nghiệp, tổ chức được Nhà nước chỉ định hoặc cho phép mới được quyền thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng đất hiếm.
Hoạt động chế biến sâu đất hiếm phải gắn với xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hiện đại để nâng cao chuỗi giá trị trong nước, bảo đảm tự chủ trong thực hiện chiến lược quốc gia về đất hiếm.
Theo dự thảo luật, Nhà nước khuyến khích hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, phát triển công nghệ khai thác, tuyển, tách, chế biến sâu đất hiếm phục vụ phát triển ngành công nghiệp đất hiếm trong nước; hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, kỹ thuật và công nghệ trong chuỗi hoạt động điều tra địa chất, thăm dò, khai thác, chế biến sâu, ứng dụng và quản lý tài nguyên đất hiếm.
Nhà nước có chính sách dự trữ đất hiếm, điều tiết hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu đất hiếm trong từng thời kỳ phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững kinh tế- xã hội.
Dự thảo luật cũng quy định, Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan lập chiến lược quốc gia về đất hiếm trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Quy hoạch khoáng sản đất hiếm là hợp phần trong nội dung quy hoạch khoáng sản nhóm I. Việc lập, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch khoáng sản đất hiếm được thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về quy hoạch.
Về thăm dò, khai thác khoáng sản đất hiếm, dự thảo quy định Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức thực hiện thăm dò đất hiếm bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp giấy phép thăm dò khoáng sản đất hiếm không sử dụng ngân sách nhà nước sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp giấy phép khai thác khoáng sản đất hiếm sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận.
Thẩm tra nội dung này, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường thống nhất quy định nhằm quản lý chặt chẽ đất hiếm, hành lang pháp lý quan trọng, tạo động lực thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản đất hiếm một cách đồng bộ, hiệu quả, bền vững.
Tuy nhiên, Ủy ban đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu, cân nhắc phương án thiết kế một chương riêng để quy định về các loại khoáng sản chiến lược quan trọng, bảo đảm tính phổ quát, ổn định lâu dài của luật.
Cơ quan tra cho biết có ý kiến băn khoăn về thời hạn giấy phép thăm dò, giấy phép khai thác đất hiếm, thời gian giữ quyền ưu tiên nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác đất hiếm có cần quy định gì khác biệt so với khoáng sản nhóm I hay không; có khống chế số lượng giấy phép thăm dò, khai thác đất hiếm cấp cho một tổ chức, cá nhân, nhất là tổ chức, cá nhân nước ngoài hay không?
Cũng có ý kiến đề nghị cần quy định cụ thể hơn về một số nội dung cơ bản có tính nguyên tắc, thời kỳ lập Chiến lược quốc gia về đất hiếm. Có ý kiến cho rằng trước khi cấp phép thăm dò, khai thác đất hiếm tại khu vực nhạy cảm liên quan đến quốc phòng, an ninh, cơ quan cấp phép cần có ý kiến bằng văn bản của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.



Các cơ chế quốc tế như cơ chế toàn cầu về bù đắp và giảm thiểu carbon trong lĩnh vực hàng không quốc tế (CORSIA) của ICAO, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh Châu Âu cùng các yêu cầu về phát thải trong chuỗi cung ứng đang tạo ra áp lực ngày càng lớn đối với các quốc gia xuất khẩu, trong đó có Việt Nam...
Brussels đang tiến hành cấm sử dụng nguồn tài trợ của Liên minh châu Âu (EU) cho các dự án năng lượng sạch có sử dụng biến tần (inverter) cho điện mặt trời và hệ thống lưu trữ pin đến từ các “quốc gia có rủi ro cao”, mà chủ yếu là Trung Quốc. Theo đó, các nhà phát triển dự án sẽ phải chuyển sang sử dụng các giải pháp thay thế từ châu Âu, nhưng điều này có thể khiến hóa đơn năng lượng và chi phí sản xuất tại châu Âu tăng lên.
Khi nhu cầu điện tăng mạnh dưới tác động của AI, trung tâm dữ liệu và xu hướng điện khí hóa, việc bảo đảm độ tin cậy của hệ thống thông qua các giải pháp đo lường, kiểm định và giám sát kỹ thuật đang trở thành yếu tố then chốt của quá trình chuyển dịch năng lượng...
Việt Nam cùng đại diện các quốc gia thành viên Thỏa thuận Paris đang họp tại Đức để thảo luận nhiều vấn đề về thực hiện mục tiêu khí hậu toàn cầu...
Từ nguồn gỗ rừng trồng tại Gia Lai, viên nén đen đang trở thành sản phẩm giá trị gia tăng cao, góp phần thúc đẩy chuyển đổi xanh và nâng tầm ngành lâm sản địa phương...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.