
Theo Trung tâm thông tin và cảnh báo, Cục Phòng vệ Thương mại, Bộ Công Thương, vài năm trở lại đây tình hình nhập khẩu lốp xe tải và xe khách vào thị trường EU đang gia tăng mạnh. Điều này dẫn đến nguy cơ EU sẽ áp dụng các biện pháp điều tra phòng vệ thương mại với sản phẩm này.
Số liệu từ trung tâm cho thấy năm 2022, tổng giá trị nhập khẩu các sản phẩm lốp xe tải và xe khách từ tất cả các thị trường trên thế giới vào EU đạt 1,8 tỷ USD.
Sau đó, trong năm 2023 trị giá nhập khẩu giảm 11,2% so với năm 2022 xuống còn 1,6 tỷ USD. Tuy nhiên, trong năm 2024, trị giá nhập khẩu các mặt hàng này vào EU tăng nhẹ trở lại đạt mức 1,7 tỷ USD.
Năm 2023, Thổ Nhĩ Kỳ dẫn đầu về tổng kim ngạch xuất khẩu lốp xe tải và xe khách sang thị trường EU. Kim ngạch của Thổ Nhĩ Kỳ đạt 404,8 triệu USD, chiếm 25,2% tổng kim ngạch nhập khẩu các sản phẩm cùng loại của EU.
Thái Lan và Trung Quốc lần lượt đứng thứ hai và thứ ba với kim ngạch xuất khẩu đạt 303,2 triệu USD và 227 triệu USD.
Việt Nam đứng thứ tư trong danh sách các quốc gia có trị giá xuất khẩu lốp xe tải và xe khách lớn nhất sang EU. Kim ngạch xuất khẩu lốp xe tải và xe khách của Việt Nam vào EU đạt 201,7 triệu USD, chiếm 12,6% tổng kim ngạch nhập khẩu các sản phẩm cùng loại của EU.
Trị giá xuất khẩu của 10 nguồn cung ứng chính lốp xe tải và xe khách sang thị trường EU đạt 1,5 tỷ USD, chiếm 94,6% tổng kim ngạch nhập khẩu của EU. Tổng trị giá xuất khẩu của các nguồn cung ứng khác đạt 87,2 triệu USD, chiếm 5,4% tổng kim ngạch nhập khẩu của EU.
Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ có sự sụt giảm xuống còn 345,1 triệu USD, chiếm 20,4% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại của EU.
Tuy nhiên, Thổ Nhĩ Kỳ vẫn là quốc gia có kim ngạch xuất khẩu lốp xe tải và xe khách lớn nhất sang EU. Thái Lan và Trung Quốc là hai quốc gia tiếp tục có trị giá xuất khẩu tăng, lần lượt xếp thứ hai và thứ tư trong số các nguồn cung ứng lớn sản phẩm lốp xe tải và xe khách sang thị trường EU. Serbia là quốc gia có mức tăng trưởng mạnh về giá trị xuất khẩu, tăng 395,6% so với năm trước đó và đạt 90,4 triệu USD, xếp thứ 5 trong số các nguồn cung ứng chính.
Ngoài ra, Ai Cập, Ấn Độ và Indonesia cũng là các nguồn cung ứng có kim ngạch xuất khẩu sang EU tăng so với năm trước đó. Tuy nhiên, một số quốc gia khác trong 10 nguồn cung ứng chính lại có sự sụt giảm về kim ngạch xuất khấu như Hàn Quốc giảm xuống còn 85,3 triệu USD và xếp vị trí thứ 6, kim ngạch của Nhật Bản giảm xuống còn 66,9 triệu USD và xếp vị trí thứ 8.
Việt Nam là một trong mười nguồn cung ứng chính sản phẩm lốp xe tải và xe khách sang thị trường EU. Năm 2022, trị giá xuất khẩu mặt hàng lốp xe tải và xe khách của Việt Nam đạt 207,6 triệu USD và chiếm 11,5% tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng lốp xe tải và xe khách của EU.
Năm 2023, do nhu cầu của thị trường giảm, trị giá xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam có sự sụt giảm nhẹ và đạt 201,7 triệu USD nhưng vẫn chiếm 12,6% tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng cùng loại của EU.
Trong năm 2024, kim ngạch xuất khẩu lốp xe tải và xe khách của Việt Nam tăng 36,3% so với năm trước đó, khi đạt 275 triệu USD, chiếm 16,3% tổng kim ngạch nhập khẩu các sản phẩm cùng loại của EU.
Cũng trong năm 2024, Việt Nam vượt Trung Quốc xếp thứ ba trong danh sách các quốc gia có tổng kim ngạch xuất khẩu lốp xe tải và xe khách lớn nhất sang thị trường EU.
Cũng theo Cục Phòng vệ Thương mại, sản xuất lốp xe có ý nghĩa quan trọng đối với kinh tế và việc làm tại EU. Mặc dù đến nay, nguồn cung ứng chính nhóm hàng này tại EU vẫn là các thị trường ngoại khối, tuy nhiên thực tế là để đảm bảo sự công bằng cho các nhà sản xuất của EU, EU đã áp dụng thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với lốp xe tải và xe khách nhập khẩu từ Trung Quốc.
Với tỷ trọng kim ngạch ở mức đáng kể và đang có xu hướng tăng lên, Cục Phòng vệ Thương mại khuyến nghị các doanh nghiệp xuất khẩu cần theo dõi khả năng EU khởi xướng điều tra phòng vệ thương mại đối với sản phẩm này của Việt Nam trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp sản xuất nhóm hàng này khi xuất khẩu sang thị trường EU cần theo dõi sát tình hình, chuẩn bị tốt về hồ sơ, chứng từ, không tiếp tay cho các hành vi gian lận xuất xứ, lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại và tích cực phối hợp với cơ quan chức năng trong trường hợp có các cuộc điều tra từ phía EU.
Bất chấp bức tranh ảm đạm của thị trường dệt may toàn cầu với những con số sụt giảm kỷ lục từ các cường quốc nhập khẩu, 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu hợp nhất toàn Tập đoàn dệt may Việt Nam tăng 6,5% so cùng kỳ, hoàn thành 46% kế hoạch năm; lợi nhuận hợp nhất tăng 14,4% so cùng kỳ, hoàn thành 55% kế hoạch năm...
Khi lợi thế nhân công giá rẻ dần mất đi, Việt Nam cần chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn và sản xuất thông minh. Các chuyên gia Đức khẳng định: Thay đổi tư duy lãnh đạo và nâng chất nguồn nhân lực là "chìa khóa" để Việt Nam bứt phá trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Trong giai đoạn 2023 - 2025, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 23–24% mỗi năm.Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn, ngành rau quả cần quyết liệt tháo gỡ hai "điểm nghẽn" là sản xuất nhỏ lẻ thiếu chuẩn hóa và tỷ lệ chế biến sâu còn thấp so với tiềm năng...
Từ khâu chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển đến tiêu thụ, thịt gia cầm lưu thông trên toàn địa bàn TP.Hồ Chí Minh sẽ từng bước được nhận diện và truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ số. Mục tiêu nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu truy xuất minh bạch, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm và kiểm soát chất lượng sản phẩm...
Trong bối cảnh nguồn cung ứng và hạ tầng truyền tải phải vận hành chạm ngưỡng giới hạn, tiết kiệm điện không còn là khẩu hiệu mang tính phong trào hay giải pháp ứng phó tạm thời, mà đã trở thành một yêu cầu cấp bách, một "nguồn năng lượng" đặc biệt cần được khai thác một cách thường xuyên và đồng bộ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.