
Ngày 4/4, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức hội thảo “Công bố báo cáo dòng chảy pháp luật kinh doanh Việt Nam 2022”.
Đây là một báo cáo thường niên của VCCI bắt đầu từ năm 2018, nhằm ghi nhận những chuyển động của pháp luật kinh doanh trong một năm, đề cập đến những vấn đề pháp lý chuyên sâu, tác động đến môi trường đầu tư kinh doanh tại nước ta.
Phát biểu khai mạc, ông Phạm Tấn Công, Chủ tịch VCCI cho rằng năm 2022 là một năm nhiều biến động và thách thức đối với kinh tế thế giới và kinh tế Việt Nam. Cuộc xung đột vũ trang Nga – Ukraine kéo dài đã gây những tác động nghiêm trọng với kinh tế thế giới.
Bên cạnh đó, thế giới thời kỳ hậu Covid đã chứng kiến bức tranh lạm phát tăng cao bất thường, thị trường tài chính tiền tệ nhiều bất ổn. Trong nước, chúng ta bước vào năm 2022 với những tổn hại nặng nề hậu Covid đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cộng với những biến động kinh tế thế giới khiến cho cộng đồng kinh doanh đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức.
Tuy nhiên, năm 2022 cũng được Việt Nam đặt trọng tâm là năm phục hồi và phát triển sau đại dịch Covid-19, với các quyết sách quan trọng của Quốc hội, Chính phủ.
Trong bối cảnh đó, báo cáo của VCCI chỉ rõ, hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật ở nước ta có 5 “dòng chảy” chính.
Thứ nhất, các chính sách ứng phó với những tác động của kinh tế thế giới hợp lý và khá linh hoạt. Trước tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp tác động đến kinh tế trong nước, Nhà nước đã nhanh chóng ban hành các chính sách để “ứng phó”, chẳng hạn như: cắt giảm các loại thuế như: thuế bảo vệ môi trường, thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) để kiềm chế giá xăng dầu.
Các chính sách này đã góp phần giảm giá xăng dầu – nguyên liệu đầu vào quan trọng của nhiều ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế và kiềm chế lạm phát.
Thứ hai, các chính sách liên quan đến hỗ trợ, phục hồi sau đại dịch tiếp tục được thúc đẩy, đã góp phần giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn.
Năm 2022, Nhà nước tiếp tục ban hành nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp như: giảm thuế giá trị gia tăng từ 10% xuống mức 8% trong năm 2022 đối với hầu hết các mặt hàng; các chính sách giãn, hoãn thuế và các khoản tài chính phải nộp; quy định về gói hỗ trợ lãi suất 2% cho các doanh nghiệp thông qua hệ thống ngân hàng thương mại.
Theo ông Công, các chính sách này đã hỗ trợ khá lớn cho doanh nghiệp. Tuy vậy, vẫn còn một số vướng mắc trong quá trình thực thi khiến cho một chính sách này chưa phát huy một cách hiệu quả nhất, chẳng hạn như chương trình hỗ trợ lãi suất 2%.
Thứ ba, các chính sách liên quan đến nền tảng số tiếp tục được hoàn thiện. Trong xu thế phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, nhiều quy định liên quan đến nền tảng số trong một số Dự thảo luật như Luật Giao dịch điện tử, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Luật Điện ảnh tiếp tục được xây dựng, sửa đổi và hoàn thiện để phù hợp với yêu cầu phát triển cũng như nhu cầu quản lý.
Việc cùng lúc sửa đổi, xây dựng các quy định này đặt ra nhiều thách thức cho cơ quan soạn thảo về việc giải quyết những mâu thuẫn, chồng chéo giữa văn bản hay xác định bản chất của nền tảng số để xây dựng chính sách phù hợp.
Thứ tư, hoạt động cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm chi phí tuân thủ tiếp tục được thúc đẩy
Trong mấy năm gần đây, chúng ta ghi nhận Chính phủ bền bỉ thực hiện các cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm chi phí tuân thủ. Rất nhiều thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ đã được cắt giảm, đơn giản hóa, tạo thuận lợi đáng kể cho cộng đồng kinh doanh.
Song bên cạnh việc đánh giá cao những nỗ lực nói trên của cơ quan quản lý, doanh nghiệp vẫn còn những băn khoăn về tính thực chất của hoạt động này. Bởi, nhiều quy định vướng mắc, gia tăng chi phí kinh doanh một cách bất hợp lý cho doanh nghiệp (ví dụ: các quy định về phòng cháy chữa cháy, …) vẫn còn thiếu vắng trong các phương án đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa chi phí tuân thủ.
Thứ năm, các chính sách để giải quyết các vấn đề “nóng” vẫn còn nhiều băn khoăn. Năm 2022, có những vấn đề “lớn”, “nóng” trên thực tế đòi hỏi nhà quản lý phải nhìn nhận lại cơ chế quản lý và hoàn thiện chính sách, như: hoạt động đấu giá đất và bỏ cọc của doanh nghiệp trúng đấu giá, hay các vi phạm trong phát hành trái phiếu riêng lẻ.
Những hoạt động này đã tác động rất lớn đến nền kinh tế và ảnh hưởng khác lớn đến môi trường đầu tư kinh doanh. Các cơ quan quản lý ngay lập tức đã cho ra đời các chính sách điều chỉnh theo hướng siết chặt đối với các hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất, phát hành trái phiếu.
Người đứng đầu VCCI cho rằng các chính sách này ngay tại thời điểm soạn thảo đã tạo ra nhiều băn khoăn cho doanh nghiệp về tính thống nhất, hợp lý. Và thực tế, Nghị định 65 về phát hành trái phiếu riêng lẻ đã có tác động thị trường như một cú phanh gấp và phải sửa đổi chỉ trong một thời gian ngắn khi vừa có hiệu lực.
Bên cạnh những “dòng chảy” chính sách đáng lưu ý trên, báo cáo của VCCI cũng cung cấp một số góc nhìn của doanh nghiệp đối với việc soạn thảo các đạo luật lớn liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh như Dự thảo Luật Đất đai, Luật Đấu thầu, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản.
“Liệu các chính sách ban hành trong các đạo luật này, doanh nghiệp có thuận lợi hơn khi thực hiện các dự án đầu tư không? Các điểm nghẽn bởi sự thiếu thống nhất giữa các đạo luật có được giải quyết triệt để hay không?”, lãnh đạo VCCI đặt câu hỏi.
Để tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, hình thành được một số tập đoàn, doanh nghiệp công nghiệp trong nước có quy mô lớn, đa quốc gia, có năng lực cạnh tranh quốc tế… do đó đòi hỏi môi trường đầu tư kinh doanh phải rất ổn định, đặc biệt là giảm các rủi ro pháp lý, tăng cường sự ổn định và khả năng dự đoán được của pháp luật có liên quan đến kinh doanh. Đây cũng là mong muốn thiết thực của cộng đồng doanh nghiệp.



Bất chấp bức tranh ảm đạm của thị trường dệt may toàn cầu với những con số sụt giảm kỷ lục từ các cường quốc nhập khẩu, 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu hợp nhất toàn Tập đoàn dệt may Việt Nam tăng 6,5% so cùng kỳ, hoàn thành 46% kế hoạch năm; lợi nhuận hợp nhất tăng 14,4% so cùng kỳ, hoàn thành 55% kế hoạch năm...
Khi lợi thế nhân công giá rẻ dần mất đi, Việt Nam cần chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn và sản xuất thông minh. Các chuyên gia Đức khẳng định: Thay đổi tư duy lãnh đạo và nâng chất nguồn nhân lực là "chìa khóa" để Việt Nam bứt phá trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Trong giai đoạn 2023 - 2025, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 23–24% mỗi năm.Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn, ngành rau quả cần quyết liệt tháo gỡ hai "điểm nghẽn" là sản xuất nhỏ lẻ thiếu chuẩn hóa và tỷ lệ chế biến sâu còn thấp so với tiềm năng...
Từ khâu chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển đến tiêu thụ, thịt gia cầm lưu thông trên toàn địa bàn TP.Hồ Chí Minh sẽ từng bước được nhận diện và truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ số. Mục tiêu nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu truy xuất minh bạch, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm và kiểm soát chất lượng sản phẩm...
Trong bối cảnh nguồn cung ứng và hạ tầng truyền tải phải vận hành chạm ngưỡng giới hạn, tiết kiệm điện không còn là khẩu hiệu mang tính phong trào hay giải pháp ứng phó tạm thời, mà đã trở thành một yêu cầu cấp bách, một "nguồn năng lượng" đặc biệt cần được khai thác một cách thường xuyên và đồng bộ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.