Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2035 (Chương trình 2026 – 2035), được thiết kế trong một tổng thể chiến lược mới, gắn chặt với xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế – xã hội vùng khó khăn.
Điểm nhấn xuyên suốt của giai đoạn này là tư duy phát triển bao trùm, coi người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà là chủ thể tham gia và quyết định hiệu quả của chương trình.
Khác với các giai đoạn trước, giảm nghèo không tách rời quá trình hiện đại hóa nông thôn. Mục tiêu xây dựng nông thôn hiện đại, toàn diện, thích ứng với biến đổi khí hậu được đặt song hành với yêu cầu thúc đẩy kinh tế nông thôn dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cách tiếp cận này cho thấy một thay đổi căn bản: giảm nghèo không chỉ là “giảm thiếu hụt”, mà là nâng cao năng lực phát triển của cộng đồng.
Trong bối cảnh kinh tế số lan tỏa mạnh mẽ, “giảm nghèo về thông tin” được xác định là một trụ cột quan trọng. Phổ cập Internet, mạng di động và nâng cao hiệu quả hệ thống thông tin cơ sở không đơn thuần là đầu tư hạ tầng, mà là mở cánh cửa để người nghèo tiếp cận chính sách, thị trường lao động, tri thức sản xuất và cơ hội sinh kế mới. Khi thông tin trở thành nguồn lực phát triển, khoảng cách giữa nông thôn và đô thị không còn chỉ đo bằng thu nhập, mà bằng khả năng kết nối.
Chương trình 2026 – 2035 đưa ra mục tiêu: thu nhập khu vực nông thôn tăng mạnh, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm xuống mức rất thấp, phần lớn các xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó ngày càng nhiều xã đạt chuẩn nâng cao và hiện đại. Đằng sau những con số này là một thông điệp rõ ràng: giảm nghèo bền vững chỉ có thể đạt được khi chất lượng sống của người dân nông thôn tiệm cận dần với khu vực đô thị.
Thực tiễn giai đoạn 2021 – 2025 cho thấy những kết quả tích cực của cách tiếp cận đổi mới. Theo Báo cáo Chính phủ, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều cả nước giảm nhanh, vượt chỉ tiêu đề ra (tỷ lệ hộ nghèo đa chiều đã giảm còn 1,3% vào năm 2025); hàng chục nghìn mô hình sinh kế được triển khai, trong đó có hàng nghìn mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Đây là minh chứng cho thấy, khi khoa học – công nghệ được đưa vào đúng chỗ, giảm nghèo không chỉ mang tính hỗ trợ ngắn hạn mà tạo ra giá trị gia tăng bền vững.
Việc thúc đẩy nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế tuần hoàn, sản phẩm OCOP, du lịch nông thôn và làng nghề truyền thống cũng cho thấy hướng đi đa dạng hóa sinh kế đang dần hình thành. Đặc biệt, thương mại điện tử và các nền tảng số đã mở rộng không gian thị trường cho sản phẩm nông thôn, giúp người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ vượt qua giới hạn địa lý. Những phiên chợ trực tuyến, hoạt động livestream bán hàng không chỉ mang lại doanh thu, mà còn thay đổi tư duy sản xuất – kinh doanh của người dân nông thôn.
Theo các chuyên gia công nghệ, chuyển đổi số còn là công cụ quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý chương trình giảm nghèo; đây chính là điểm khác biệt mang tính chiến lược của giai đoạn 2026–2035. Khi dữ liệu về hộ nghèo, sinh kế, tiếp cận dịch vụ xã hội được số hóa và liên thông, việc phân bổ nguồn lực sẽ chính xác hơn, hạn chế trùng lặp, thất thoát và nâng cao tính minh bạch.
Chia sẻ về chính sách giảm nghèo, ông Phạm Hồng Đào, Phó Chánh Văn phòng Quốc gia về giảm nghèo, cho hay trong năm 2026, việc xác định hộ nghèo tiếp tục áp dụng chuẩn nghèo giai đoạn 2022 - 2025. Từ năm 2027 sẽ áp dụng chuẩn nghèo mới theo Nghị định số 351/2025/NĐ-CP. Theo đó, hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người 2,2 triệu đồng/người/tháng trở xuống (khu vực thành thị là 2,8 triệu đồng) và thiếu hụt tối thiểu 3 chỉ số đo lường.
“Trong bộ tiêu chí giai đoạn tới, một số chỉ số tiếp cận dịch vụ xã hội được điều chỉnh để phản ánh xu hướng phát triển mới. Chẳng hạn, bỏ tiêu chí về phương tiện thông tin, bổ sung tiêu chí về sử dụng dịch vụ số, internet và khả năng xử lý rác thải sinh hoạt”, ông Đào cho biết.
Theo ông Đào, việc điều chỉnh tiêu chí dịch vụ xã hội để nhận diện tình trạng nghèo là cần thiết trong bối cảnh đất nước chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp, định hướng phát triển nhanh, xanh và bền vững. Chuẩn nghèo với cách tiếp cận mới là nền tảng để tiếp tục triển khai các chính sách giai đoạn 2026 - 2030, hướng tới mục tiêu giảm nghèo bao trùm và bền vững.
Bước sang giai đoạn 2026 – 2035, bối cảnh phát triển đặt ra nhiều thách thức mới: nghèo đô thị gia tăng, biến đổi khí hậu tác động sâu rộng, già hóa dân số và thiên tai diễn biến phức tạp. Những thách thức này đòi hỏi chương trình giảm nghèo không thể đi theo lối mòn, mà phải liên tục đổi mới.
Việc Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư cho các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn mới, với nguồn lực lớn và định hướng rõ ràng, cho thấy quyết tâm chính trị mạnh mẽ. Ba nhóm giải pháp trọng tâm đó là: phát triển hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu, hỗ trợ sinh kế bền vững và nâng cao năng lực quản lý thông qua chuyển đổi số phản ánh cách tiếp cận toàn diện, kết hợp giữa “đầu tư cứng” và “đầu tư mềm”.
Cùng đó chuyển đổi số chính là “chất xúc tác” giúp các nhóm giải pháp này phát huy hiệu quả cao nhất. Hạ tầng số tốt sẽ hỗ trợ hạ tầng kinh tế – xã hội; dữ liệu số sẽ giúp thiết kế chính sách sát thực tế; nền tảng số sẽ mở rộng không gian sinh kế cho người nghèo. Khi các yếu tố này kết nối với nhau, giảm nghèo không còn là nhiệm vụ riêng lẻ, mà trở thành một phần hữu cơ của quá trình phát triển nhanh và bền vững.
Trên hành trình hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, nguyên tắc “không để ai bị bỏ lại phía sau” tiếp tục là kim chỉ nam. Giảm nghèo bền vững, với trọng tâm là công nghệ cao và chuyển đổi số, không chỉ giúp thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, mà còn tạo nền tảng xã hội vững chắc cho phát triển bao trùm. Đó chính là ý nghĩa lâu dài và sâu sắc nhất của chương trình giảm nghèo trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Chính sách đối với cán bộ, công chức, người lao động công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đã được thực hiện ổn định trong hơn 6 năm qua, góp phần nâng cao thu nhập, đời sống của người thụ hưởng. Tuy nhiên, đến nay đã phát sinh một số hạn chế cần được điều chỉnh...
Bộ Nội vụ đề xuất bổ sung Ngày Văn hoá Việt Nam 24/11 vào ngày nghỉ lễ chính thức trong năm được quy định tại Bộ luật Lao động. Ngày này, người lao động được nghỉ làm và hưởng nguyên lương…
Những năm qua, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự vào cuộc của các bộ, ngành, địa phương, cả nước đã tìm kiếm, quy tập được hơn 1.075.000 mộ (hài cốt) liệt sĩ. Các công trình nghĩa trang liệt sĩ, đài tưởng niệm, bia ghi tên liệt sĩ được xây dựng trang nghiêm, trở thành những địa chỉ thiêng liêng...
Bộ Nội vụ vừa ban hành hướng dẫn về việc đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu đa ngành, đa lĩnh vực ở cấp xã...
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam dự kiến xây dựng khoảng 10.700 căn nhà ở xã hội đến năm 2030, nhằm tạo điều kiện để người lao động có nơi ở ổn định, yên tâm làm việc, gắn bó lâu dài với doanh nghiệp và các khu công nghiệp...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.