Nhiều doanh nghiệp không chỉ khai thác sâu nguồn nguyên liệu bản địa như gỗ tràm, cỏ năn tượng mà còn chủ động chuyển từ gia công B2B truyền thống (sản xuất theo đơn đặt hàng) sang mô hình B2C/D2C hiện đại (bán trực tiếp đến người dùng cuối, làm chủ thương hiệu), tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng quốc tế qua xuất khẩu qua các nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới như Amazon.
Dẫn số liệu từ Cục Hải quan, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết lũy kế đến ngày 15/11/2025, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 14,76 tỷ USD, tăng 5,6% so với cùng kỳ 2024. Riêng nhóm sản phẩm gỗ đạt 10,1 tỷ USD, tăng 4,9%, cho thấy đà hồi phục rõ rệt của ngành sau giai đoạn sụt giảm kéo dài.
Song song với các con số tăng trưởng, xu hướng dịch chuyển về nguồn nguyên liệu đang mở ra cơ hội mới cho ngành. Trong khi thế giới hướng tới vật liệu sinh học, tái tạo và minh bạch nguồn gốc, cỏ năn tượng – một loài thực vật từng bị xem là “cỏ dại” tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang nổi lên như một nguồn tài nguyên chiến lược.
Ông Trần Lam Sơn, Phó Tổng giám đốc Công ty Thiên Minh Furniture, phân tích: “Cỏ năn tượng sinh trưởng trong môi trường nước lợ, hình thành từ quá trình người dân bơm nước mặn nuôi tôm sú khiến độ mặn tăng cao. Dựa trên nghiên cứu, hiện diện tích cỏ năn tượng tại ĐBSCL có thể lên tới 1,8 triệu ha. Với năng suất khoảng 10 tấn nguyên liệu khô/ha/vụ”.
Theo tính toán, nếu lục bình cần 10 - 20 năm để định hình thương hiệu với giá khoảng 26.000 đồng/kg, thì cỏ năn tượng với lợi thế giá thành đầu vào thấp hơn (khoảng 12.000 đồng/kg) và khả năng chống mối mọt tự nhiên, hoàn toàn có thể tạo ra một ngành nguyên liệu giá trị. Đặc biệt, loài cây này không cần phân thuốc, dễ dàng đáp ứng các tiêu chuẩn xanh khắt khe như FSC hay quy định EUDR của châu Âu.
Không chỉ dừng ở thủ công mỹ nghệ, cỏ năn tượng còn có thể được ứng dụng sâu hơn trong ngành nội thất công nghiệp. Các nhà thiết kế đã từng thử nghiệm kết hợp năn tượng với gỗ tự nhiên để sản xuất bàn ghế, kệ trưng bày, ốp vách, trang trí, tạo nên dòng sản phẩm vừa nhẹ, vừa thẩm mỹ, lại thân thiện môi trường.
Ngoài ra, cỏ năn tượng còn có thể được sử dụng để sản xuất viên nén sinh học, bột giấy, hoặc làm vật liệu cách âm, những lĩnh vực hiện đang có nhu cầu tăng trưởng rất cao trong xây dựng xanh và công trình tiết kiệm năng lượng.
Theo Amazon Global Selling, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ, ngành sản xuất Việt Nam đang đứng trước cơ hội để chuyển đổi, bứt khỏi lối mòn “gia công”, hướng tới việc tạo ra giá trị thông qua đổi mới.
Trong đó, xuất khẩu qua thương mại điện tử đang thúc đẩy một làn sóng chuyển dịch từ mô hình kinh doanh B2B sang mô hình B2C/D2C hiện đại. Sự chuyển dịch này đòi hỏi một công thức thành công mới. Đó là sự “Cộng hưởng nguồn lực”.
Doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm sản xuất lâu năm, mà phải tăng cường áp dụng công nghệ và dữ liệu tìm hiểu xu hướng thị trường và nhu cầu khách hàng để sáng tạo và cải tiến sản phẩm, xây dựng thương hiệu riêng và triệt để tận dụng các giải pháp số trong vận hành và đa dạng hóa thị trường.
Theo đánh giá của Amazon, bên cạnh nhóm thực phẩm nông sản chế biến, ngành gỗ Việt Nam đang nổi lên như một điểm sáng trên trong xuất khẩu thông qua thương mại điện tử.
Câu chuyện của Thiên Minh Furniture và thương hiệu non trẻ Green Mekong là một ví dụ điển hình cho sự chuyển dịch của doanh nghiệp gỗ Việt - từ khai thác nguyên liệu bản địa (gỗ Acacia, cỏ năn tượng) đến việc thay đổi tư duy kinh doanh từ B2B sang B2C.
Thiên Minh vốn là một doanh nghiệp có thâm niên gần 20 năm trong mảng B2B, được thành lập từ năm 2007 bởi bà Lý Thị Thùy Trang và ông Trần Lam Sơn, với 20 năm kinh nghiệm gia công xuất khẩu cho nhiều thương hiệu và thị trường lớn trên thế giới như Châu Âu, Mỹ, Úc, Canada, Nga,… chuyên khai thác và nâng tầm giá trị gỗ Acacia (hay còn gọi là gỗ keo hoặc gỗ tràm). Đến năm 2024, Green Mekong ra đời như một “cánh tay nối dài” của doanh nghiệp trên nền tảng số.
Green Mekong hiện phát triển các sản phẩm từ nội – ngoại thất đến nhóm đồ dùng phong cách sống, gồm vỉ lát sàn gỗ acacia, thảm tắm, bàn di động và các sản phẩm giỏ dệt thủ công từ cỏ năn tượng,…Điều đặc biệt là thương hiệu này được vận hành bởi thế hệ kế thừa - CEO Trần Ngọc Lam Giang (con gái ông Trần Lam Sơn) cùng một đội ngũ nhân sự vỏn vẹn 4 người.
Theo bà Trần Ngọc Lam Giang, CEO Green Mekong, chuyển từ B2B sang B2C đặt ra nhiều yêu cầu hoàn toàn khác trong vận hành và sản xuất. Thay vì sản xuất hàng loạt, B2C đòi hỏi tính linh hoạt cao, chấp nhận các lô hàng nhỏ để thử nghiệm thị trường, kéo theo chi phí vận hành và setup tăng, đòi hỏi sự bền bỉ về tài chính.
Sản phẩm cũng phải thiết kế lại theo hướng lắp ráp thông minh (RTA) để tối ưu chi phí logistics khi giao hàng trực tiếp đến người tiêu dùng. Khâu đóng gói trở nên khắt khe hơn, không chỉ đảm bảo thẩm mỹ mà còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn bảo vệ nghiêm ngặt khi đi qua hệ thống fulfillment và giao nhận.
Đặc biệt, bán lẻ đồng nghĩa với việc đối mặt trực tiếp phản hồi của khách hàng. Các đánh giá công khai trên sàn có thể tác động tức thì đến doanh số, buộc doanh nghiệp phải siết chặt kiểm soát chất lượng ở mức cao hơn nhiều so với mô hình B2B truyền thống.
Để giải quyết các thách thức trên với nguồn nhân lực hạn chế, Green Mekong áp dụng chiến lược "Small team, Big Impact" (Đội ngũ nhỏ, Tác động lớn) thông qua việc tối ưu hóa công nghệ. Với đội ngũ nòng cốt chỉ 4 nhân sự thuộc thế hệ Gen Z, doanh nghiệp tận dụng triệt để các công cụ AI tiên tiến của Amazon để tự động hóa quy trình vận hành.
“Từ đó, Amazon thành kênh nghiên cứu thị trường (R&D) thực tế nhất. Dữ liệu phản hồi (Review/Feedback) từ khách hàng quốc tế mua sản phẩm trên Amazon được tổng hợp và gửi ngược về đội ngũ kỹ thuật của doanh nghiệp”, chị Giang chia sẻ.
Mối quan hệ ngoại giao kéo dài hơn 55 năm giữa Việt Nam và Thụy Điển đang chuyển dịch mạnh mẽ sang một giai đoạn mới, được định hình bởi dòng vốn thương mại, đầu tư, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh. Dù bối cảnh kinh tế toàn cầu có nhiều biến động, các doanh nghiệp Thụy Điển vẫn ghi nhận kết quả hoạt động ổn định và khẳng định cam kết gắn bó lâu dài tại thị trường Việt Nam.
Hoạt động hội chợ, triển lãm thương mại trên địa bàn Thành phố sẽ được quản lý theo hướng hậu kiểm là chủ yếu, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, vừa bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước.
Thành phố Huế đang đẩy mạnh mở rộng hợp tác với các đối tác Hàn Quốc trong các lĩnh vực du lịch, y tế và hàng không, trong đó đặc biệt kỳ vọng vào việc mở đường bay trực tiếp giữa Huế và Hàn Quốc nhằm thúc đẩy giao lưu du lịch, thương mại và thu hút đầu tư...
Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động mạnh và xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng ngày càng rõ nét, quan hệ kinh tế Việt Nam – Trung Quốc đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi quan trọng nhất là sau đại hội 14 của Đảng. Không chỉ dừng ở giao thương hàng hóa, các hoạt động xúc tiến thương mại sẽ gắn chặt với chuyển đổi số, liên kết sản xuất và định vị lại vai trò của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị khu vực. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam, ông Bùi Quang Hưng, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, đã làm rõ những xu hướng mới, các động lực từ FTA, cũng như cơ hội và thách thức đặt ra trong giai đoạn tới.
Với trọng tâm tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao hiệu quả quản trị, phong trào thi đua được kỳ vọng sẽ trở thành động lực quan trọng giúp Hà Tĩnh thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững trong những năm tới.
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.