
Ngày 24/6, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Chương trình Đối tác chuyển dịch năng lượng Đông Nam Á (ETP, UNOPS) tổ chức Họp tham vấn trong khuôn khổ Hỗ trợ kỹ thuật "Xây dựng Chương trình Hành động Quốc gia về Làm mát tại Việt Nam".
GÁNH NẶNG GẤP ĐÔI CHO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỪ KHÍ NHÀ KÍNH
Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới, riêng trong năm 2020, Việt Nam đã chịu thiệt hại kinh tế do biến đổi khí hậu hơn 10 tỷ USD, trong đó riêng ngành làm mát thiệt hại khoảng 518 triệu USD. Bên cạnh đó, ngành làm mát cũng là nguồn tiêu thụ điện năng lớn, đồng thời phát thải đáng kể khí nhà kính và các chất làm suy giảm tầng ô-dôn.
Bà Nguyễn Đặng Thu Cúc, Phó Trưởng phòng Quản lý phát thải khí nhà kính và Bảo vệ tầng ô-dôn, Cục Biến đổi khí hậu, cho biết năm 2023-2024 được ghi nhận nóng nhất trong lịch sử trên thế giới và ở Việt Nam. 20% điện năng sản xuất ra trên thế giới được sử dụng cho nhu cầu làm lạnh và điều hòa không khí. Nếu không được kiểm soát, lượng phát thải từ việc làm mát dự kiến sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030 và gấp ba vào năm 2100.
Với Việt Nam, nhiệt độ trung bình năm của Việt Nam có xu thế tăng, với mức tăng trung bình là 0,89 độ C. Số ngày nắng nóng có xu thế tăng trên phạm vi cả nước. Mức nhiệt tăng cùng với hiệu ứng đảo nhiệt đô thị khiến các thành phố của Việt Nam nằm trong những khu vực đô thị có nguy cơ phải hứng chịu các đợt nắng nóng cực đoan cao nhất trên toàn cầu.
Bức tranh tiêu thụ năng lượng trong lĩnh vực làm mát được bà Đặng Hồng Hạnh, Giám đốc điều hành Công ty cổ phần tư vấn năng lượng và môi trường (VNEEC), đưa ra tại cuộc họp tham vấn cũng chỉ rõ lĩnh vực làm mát tăng trung bình 2,3%/năm trong giai đoạn 2018–2022. Trong đó, điều hoà không khí dân dụng và thương mại tăng mạnh nhất với mức 7,6%/năm.
Mức tiêu thụ năng lượng là 71,38 TWh (gồm 65,95 TWh từ điện năng và nhiên liệu), chiếm khoảng 25,2% tổng sản lượng điện sản xuất và mua của cả nước.
Cũng theo đó, tổng lượng phát thải trong lĩnh vực làm mát là 64,68 triệu tấn CO2 tương đương (MtCO2e), chiếm khoảng 14% tổng lượng phát thải quốc gia theo kịch bản dự báo. Trong đó, phát thải gián tiếp (từ tiêu thụ điện năng) là 84,3% (tương đương 54,52 MtCO2tđ); phát thải trực tiếp (từ môi chất lạnh) là 15,7% (tương đương 10,16 MtCO2tđ).
Trong khi đó, đa số thiết bị điều hoà không khí dân dụng hiện đang vận hành với hiệu suất cao hơn mức Tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng tối thiểu (MEPS) hiện hành. 72% các thiết bị điều hoà không khí dân dụng và thương mại mới sử dụng công nghệ biến tần (inverter).
Làm mát thụ động hiện chưa được chú trọng trong thực tiễn xây dựng. Có tới 98% công trình xây dựng không sử dụng vật liệu cách nhiệt; 75% công trình sử dụng kính một lớp. Quá trình đô thị hóa nhanh chóng làm gia tăng hiện tượng đảo nhiệt đô thị.
“Làm mát là yếu tố thiết yếu đối với sức khỏe, năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, lĩnh vực này lại đóng góp đáng kể vào tiêu thụ điện năng toàn cầu (20%) và phát thải khí nhà kính”, bà Hạnh nhận định.
XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG QUỐC GIA VỀ LÀM MÁT
Theo các chuyên gia, nhu cầu làm mát gia tăng nhanh chóng do quá trình đô thị hóa, thu nhập tăng và các đợt nắng nóng ngày càng thường xuyên, gay gắt. Các thiết bị làm mát sử dụng môi chất lạnh (HFC) tạo ra khí nhà kính gây ra gánh nặng gấp đôi cho biến đổi khí hậu. Dự kiến chiếm gần 10% tổng lượng phát thải khí nhà kính quốc gia vào năm 2030 nếu không có biện pháp kiểm soát.
Do đó, để gia tăng của các giải pháp làm mát bền vững trong nỗ lực giảm nhẹ biến đổi khí hậu, nâng cao hiệu quả năng lượng và bảo vệ sức khỏe cộng đồng, Chính phủ Việt Nam với sự đồng hành của các đối tác quốc tế, đang thúc đẩy quá trình xây dựng các chính sách tổng thể và định hướng tương lai cho lĩnh vực làm mát.
Ông John Robert Cotton, Phó Giám đốc Chương trình ETP, cho rằng ngành làm mát đóng vai trò quan trọng trong giảm phát thải. Việt Nam tiên phong trong nỗ lực chống biến đổi khí hậu với cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, cùng với các lộ trình hành động cụ thể.
Trong đó, lĩnh vực làm mát đặt mục tiêu giảm tới 68% lượng phát thải, giảm 80% lượng sử dụng các chất HFC vào năm 2045. Để đạt được mục tiêu này, Việt Nam cần từng bước loại bỏ các chất làm suy giảm tầng ô-dôn và các chất làm lạnh có tiềm năng gây nóng lên toàn cầu cao.
Bà Nguyễn Đặng Thu Cúc cho biết Việt Nam đã cam kết phát triển hệ thống làm mát bền vững thông qua nhiều thỏa thuận quốc tế quan trọng: Nghị định thư Montreal và Bản sửa đổi bổ sung Kigali; thoả thuận Paris (Mục tiêu NDC 2030, Mục tiêu phát thải ròng bằng “0” 2050). Đặc biệt, Việt Nam là một trong 63 quốc gia đầu tiên tham gia Cam kết Làm mát Toàn cầu tại Hội nghị COP28 ngày 05/12/2023.
Kế hoạch hành động quốc gia về làm mát (NCAP) đã được xây dựng nhằm đưa ra định hướng chiến lược, thúc đẩy các giải pháp làm mát hiệu quả năng lượng, phát thải thấp và có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn quốc.
Bổ sung thêm, bà Hạnh cho biết cốt lõi của NCAP là đưa ra lộ trình tiêu thụ HFC như: đóng băng mức tiêu thụ ở 14 triệu tCO2tđ vào năm 2028; giảm 10% vào năm 2029 và giảm 80% vào năm 2045. Thông qua hạn chế sản phẩm và thiết bị như thiết bị làm lạnh vận tải, thiết bị làm lạnh thương mại/công nghiệp, bơm nhiệt, điều hòa di động, điều hòa gia dụng… để loại bỏ dần các công nghệ có tiềm năng nóng lên toàn cầu (GWP) cao và tăng hiệu suất năng lượng.
Chương trình NCAP theo vòng đời với bốn giai đoạn: 2024–2028 - thí điểm thu hồi nền tảng; 2040– 2044 - hoàn thiện vòng tuần hoàn tái chế môi chất lạnh.
NCAP dự kiến sẽ mang lại các tác động tích cực và định lượng được vào năm 2050, chuyển hóa các cam kết khí hậu của Việt Nam thành một lộ trình cụ thể, từng bước hướng tới một nền kinh tế làm mát thông minh với khí hậu vào giữa thế kỷ.
NCAP dự kiến sẽ góp phần giảm tiêu thụ điện khoảng 10 TWh vào năm 2030 và khoảng 69 TWh vào năm 2050 (tương đương sản lượng hàng năm của bốn nhà máy điện lớn). Đồng thời giảm 97% lượng khí nhà kính trong lĩnh vực làm mát vào năm 2050 (dự kiến giảm 7,8 triệu tấn CO₂tđ vào năm 2030 và 20 triệu tấn CO₂tđ vào năm 2050). Tham gia thị trường carbon trong và ngoài nước và phát hành trái phiếu xanh thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
“Kết hợp với lưới điện xanh hơn, lượng phát thải từ lĩnh vực làm mát sẽ giảm mạnh so với mức hiện tại, góp phần bảo đảm các mục tiêu NDC và trung hòa các-bon của Việt Nam”, bà Hạnh kỳ vọng.



Bất chấp bức tranh ảm đạm của thị trường dệt may toàn cầu với những con số sụt giảm kỷ lục từ các cường quốc nhập khẩu, 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu hợp nhất toàn Tập đoàn dệt may Việt Nam tăng 6,5% so cùng kỳ, hoàn thành 46% kế hoạch năm; lợi nhuận hợp nhất tăng 14,4% so cùng kỳ, hoàn thành 55% kế hoạch năm...
Khi lợi thế nhân công giá rẻ dần mất đi, Việt Nam cần chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn và sản xuất thông minh. Các chuyên gia Đức khẳng định: Thay đổi tư duy lãnh đạo và nâng chất nguồn nhân lực là "chìa khóa" để Việt Nam bứt phá trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Trong giai đoạn 2023 - 2025, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 23–24% mỗi năm.Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn, ngành rau quả cần quyết liệt tháo gỡ hai "điểm nghẽn" là sản xuất nhỏ lẻ thiếu chuẩn hóa và tỷ lệ chế biến sâu còn thấp so với tiềm năng...
Từ khâu chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển đến tiêu thụ, thịt gia cầm lưu thông trên toàn địa bàn TP.Hồ Chí Minh sẽ từng bước được nhận diện và truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ số. Mục tiêu nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu truy xuất minh bạch, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm và kiểm soát chất lượng sản phẩm...
Trong bối cảnh nguồn cung ứng và hạ tầng truyền tải phải vận hành chạm ngưỡng giới hạn, tiết kiệm điện không còn là khẩu hiệu mang tính phong trào hay giải pháp ứng phó tạm thời, mà đã trở thành một yêu cầu cấp bách, một "nguồn năng lượng" đặc biệt cần được khai thác một cách thường xuyên và đồng bộ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.