Ngày 27/5/2026, tại Ninh Bình, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình cùng Hiệp hội Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam tổ chức Hội nghị góp ý Dự thảo “Nghị định về phát triển ngành nghề nông thôn và làng nghề bền vững” thay thế Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn.
Theo Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị định 52, sau hơn 6 năm triển khai, ngành nghề nông thôn tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.
Hiện cả nước có hơn 586 nghìn cơ sở sản xuất, kinh doanh ngành nghề nông thôn, tạo việc làm cho trên 2,1 triệu lao động, với doanh thu hơn 376 nghìn tỷ đồng mỗi năm. Cùng với đó, 263 nghề truyền thống và gần 2.000 làng nghề, làng nghề truyền thống được công nhận đã góp phần lưu giữ tinh hoa văn hóa, tri thức nghề truyền thống Việt Nam.
Tuy nhiên, nhiều làng nghề đang đối mặt nguy cơ mai một do thiếu lực lượng kế cận, thị trường bấp bênh, ô nhiễm môi trường và đứt gãy truyền nghề. Nhiều nghề truyền thống hiện chỉ còn tồn tại trong vài hộ gia đình cao tuổi.
Ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, nhận định: Làng nghề là một trong những “mỏ vàng” để khai thác, phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn. Trong bối cảnh ngành nông nghiệp và môi trường đang chịu nhiều áp lực tăng trưởng, khu vực phát triển nông thôn và ngành nghề nông thôn có thể đóng góp giá trị rất lớn nếu được tổ chức lại theo hướng hiện đại và bền vững.
Nghị định mới không chỉ là văn bản quản lý ngành nghề nông thôn mà còn là khung thể chế quan trọng để chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế nông thôn từ nhỏ lẻ, rời rạc sang nền kinh tế sáng tạo, xanh, số và gắn với bản sắc văn hóa dân tộc".
Một trong những nội dung trọng tâm của Dự thảo là tái định hình không gian phát triển làng nghề gắn với bảo vệ môi trường và kinh tế xanh. Theo đó, Nhà nước khuyến khích áp dụng công nghệ sạch, mô hình sản xuất tuần hoàn, hệ thống cảnh báo ô nhiễm môi trường và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Các cơ sở gây ô nhiễm, có nguy cơ cháy nổ cao sẽ buộc phải di dời. Trong khi đó, những nghề thủ công truyền thống gắn với văn hóa cộng đồng, du lịch và ít tác động môi trường sẽ tiếp tục được duy trì trong khu dân cư.
Theo ông Thịnh, sau hơn 7 năm thực hiện, Nghị định 52 đã bộc lộ nhiều hạn chế. Tiêu chí công nhận ngành nghề nông thôn hiện nay đã lạc hậu, nhiều ngành nghề mới không còn phù hợp với khung chính sách cũ. Đồng thời, nghị định cũng chưa giải quyết được những vấn đề mới phát sinh như ô nhiễm môi trường, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử hay cơ chế hậu kiểm.
Một điểm mới đáng chú ý của Dự thảo là thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong ngành nghề nông thôn. Ngoài ra, Dự thảo cũng lần đầu tiên quy định rõ cơ chế hậu kiểm sau công nhận làng nghề, nghề truyền thống. Các danh hiệu sẽ bị thu hồi nếu ngừng hoạt động kéo dài, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hoặc gian lận hồ sơ.
Đáng chú ý, Dự thảo dành riêng các quy định về tôn vinh nghệ nhân ngành nghề nông thôn. Những người có ít nhất 10 năm thực hành nghề, nắm giữ bí quyết truyền thống và có đóng góp trong truyền dạy sẽ được ưu tiên hỗ trợ về sở hữu trí tuệ, kỹ năng số, xúc tiến thương mại và phát triển du lịch trải nghiệm.
Ông Trịnh Quốc Đạt, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đánh giá dự thảo Nghị định đã có cách tiếp cận hiện đại và toàn diện hơn khi lồng ghép các yếu tố chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn, phát triển xanh và xây dựng chuỗi giá trị vào chiến lược phát triển làng nghề. Việc quy định không gian làng nghề bao gồm bảo tồn, trải nghiệm du lịch và thực hành nghề là hướng đi đúng, bởi giá trị làng nghề không chỉ nằm ở sản phẩm mà còn ở chiều sâu văn hóa, tri thức dân gian và bản sắc cộng đồng.
Tuy nhiên, ông Đạt cho rằng dự thảo cần tiếp tục hoàn thiện để sát thực tế hơn, đồng thời đề nghị bổ sung cụm từ “bảo tồn” vào tên gọi Nghị định, sửa thành “Nghị định về bảo tồn phát triển ngành nghề nông thôn và làng nghề bền vững” nhằm nhấn mạnh vai trò xuyên suốt của công tác bảo tồn.
"Nên áp dụng tiêu chí linh hoạt hơn trong công nhận nghề và làng nghề truyền thống để tránh bỏ sót các nghề thủ công quý giá dù chỉ còn ít hộ duy trì", ông Đạt đề xuất.
Góp ý tại hội thảo, nhiều nghệ nhân và doanh nghiệp, cho rằng bài toán lớn nhất hiện nay là thiếu cơ chế tổ chức, quản lý chất lượng ngay trong nội bộ làng nghề.
"Nếu không có người lãnh đạo làng nghề thì sẽ không có ai quản lý kỹ thuật hay quản lý chất lượng sản phẩm, trong khi đây là vấn đề sống còn của làng nghề", Nghệ nhân Nguyễn Ngọc Thạch, làng nghề dệt cói truyền thống chia sẻ; đồng thời cho biết chúng ta chưa có tiêu chí nào về đội ngũ quản lý kỹ thuật trong làng nghề. Đây là một thiếu sót rất lớn.
Nhiều nơi hiện vẫn thiếu bộ tiêu chí quản lý kỹ thuật, dẫn đến tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng trà trộn, ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín của các làng nghề truyền thống. Ví dụ, nghề cói truyền thống phải trải qua nhiều công đoạn xử lý nguyên liệu để bảo đảm độ bền, chống ẩm mốc, nhưng vì chạy theo lợi nhuận, nhiều cơ sở đã bỏ qua quy trình khiến khách hàng mất niềm tin".
Nhấn mạnh nghề thủ công mỹ nghệ không chỉ là sinh kế mà còn là “văn hóa của dân tộc”, ông Đoàn Văn Lan, Giám đốc Công ty TNHH Đổi mới, cho biết qua kinh nghiệm khảo sát tại nhiều quốc gia, cho thấy Việt Nam cần có chính sách mạnh hơn về thuế, hạ tầng, tín dụng, nguyên liệu và mặt bằng sản xuất cho khu vực làng nghề.
"Chính sách đào tạo nghề hiện nay vẫn còn khoảng trống đối với nhóm lao động trên 60 tuổi, lực lượng đang tham gia rất lớn vào sản xuất thủ công", ông Lan nêu thực tế; đồng thời đề xuất tăng cường liên kết giữa làng nghề và du lịch trải nghiệm. Khách quốc tế đến làng nghề, mua sản phẩm tại chỗ chính là một hình thức “xuất khẩu tại chỗ”.



Bất chấp bức tranh ảm đạm của thị trường dệt may toàn cầu với những con số sụt giảm kỷ lục từ các cường quốc nhập khẩu, 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu hợp nhất toàn Tập đoàn dệt may Việt Nam tăng 6,5% so cùng kỳ, hoàn thành 46% kế hoạch năm; lợi nhuận hợp nhất tăng 14,4% so cùng kỳ, hoàn thành 55% kế hoạch năm...
Khi lợi thế nhân công giá rẻ dần mất đi, Việt Nam cần chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn và sản xuất thông minh. Các chuyên gia Đức khẳng định: Thay đổi tư duy lãnh đạo và nâng chất nguồn nhân lực là "chìa khóa" để Việt Nam bứt phá trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Trong giai đoạn 2023 - 2025, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 23–24% mỗi năm.Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn, ngành rau quả cần quyết liệt tháo gỡ hai "điểm nghẽn" là sản xuất nhỏ lẻ thiếu chuẩn hóa và tỷ lệ chế biến sâu còn thấp so với tiềm năng...
Từ khâu chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển đến tiêu thụ, thịt gia cầm lưu thông trên toàn địa bàn TP.Hồ Chí Minh sẽ từng bước được nhận diện và truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ số. Mục tiêu nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu truy xuất minh bạch, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm và kiểm soát chất lượng sản phẩm...
Trong bối cảnh nguồn cung ứng và hạ tầng truyền tải phải vận hành chạm ngưỡng giới hạn, tiết kiệm điện không còn là khẩu hiệu mang tính phong trào hay giải pháp ứng phó tạm thời, mà đã trở thành một yêu cầu cấp bách, một "nguồn năng lượng" đặc biệt cần được khai thác một cách thường xuyên và đồng bộ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.