Ngày 4/6/2026, Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (VIESARD) phối hợp cùng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) và Tổ chức Forest Trends tổ chức hội thảo “Nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp do Uỷ ban nhân dân xã quản lý”.
ThS. Nguyễn Văn Tiến - Phó Chủ tịch Hội Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, nguyên Vụ trưởng Ban Kinh tế Trung ương, cho biết hiện cả nước có hơn 3,07 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp do UBND cấp xã quản lý, chiếm khoảng 20,5% tổng diện tích rừng quốc gia. Đây là quỹ đất rất lớn nhưng đang tồn tại nhiều bất cập về cơ chế quản lý, nguồn lực và địa vị pháp lý.
Diện tích này chủ yếu là các khu rừng chưa được giao, cho thuê hoặc đất lâm nghiệp thu hồi từ các nông, lâm trường hoạt động kém hiệu quả. Dù Luật Lâm nghiệp 2017 giao trách nhiệm quản lý cho UBND cấp xã, song địa vị pháp lý của cấp xã với tư cách chủ thể quản lý rừng vẫn chưa được xác lập đầy đủ, dẫn tới tình trạng “quản lý nhưng thiếu quyền và nguồn lực”.
Theo ông Nguyễn Văn Tiến, phần lớn diện tích rừng do cấp xã quản lý có chất lượng thấp. Tại nhiều địa phương như Gia Lai, Cao Bằng, Lai Châu, Nghệ An và Tuyên Quang, tỷ lệ rừng nghèo chiếm từ 70% đến trên 90% diện tích.
Khảo sát tại 6 xã thuộc các tỉnh Phú Thọ, Sơn La, Gia Lai và Đắk Lắk cho thấy hơn 81% diện tích do UBND xã quản lý đang được người dân sử dụng sản xuất; hơn 11% bị lấn chiếm và trên 6% sử dụng sai mục đích. Đáng chú ý, hầu hết các hộ dân đang sử dụng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất".
Một bất cập khác là sự chênh lệch lớn giữa hồ sơ quản lý và hiện trạng thực tế. Kết quả rà soát bằng ảnh vệ tinh và khảo sát thực địa cho thấy diện tích rừng thực tế thấp hơn hơn 4.400 ha so với số liệu hiện trạng rừng năm 2025. Nhiều khu vực trên hồ sơ vẫn là đất lâm nghiệp nhưng thực tế đã được sử dụng để sản xuất nông nghiệp từ nhiều năm trước.
Nguồn lực dành cho quản lý rừng cấp xã cũng rất hạn chế. Nhiều địa phương quản lý hàng nghìn hecta rừng nhưng chỉ có cán bộ kiêm nhiệm, thiếu kinh phí, thiếu nhân lực và thiếu hướng dẫn chuyên môn.
Chia sẻ tại hội thảo, ông Cầm Bun Lộc - Chủ tịch UBND xã Nậm Lầu, tỉnh Sơn La cho hay địa phương đang quản lý khoảng 1.642 ha rừng và đất lâm nghiệp. Tuy nhiên, giá cà phê tăng cao trong những năm gần đây đã tạo áp lực lớn lên công tác bảo vệ rừng.
Theo ông Lộc, tình trạng chuyển đổi đất rừng sang trồng cà phê diễn ra khá phổ biến. Năm 2025, xã đã xử phạt nhiều trường hợp vi phạm với tổng diện tích khoảng 1,1 ha. Dù một số diện tích cà phê mới trồng đã bị nhổ bỏ và người dân bị yêu cầu trồng lại rừng, nhưng lợi nhuận từ cây cà phê vẫn khiến nhiều hộ tiếp tục vi phạm.
Ông Cầm Bun Lộc cho rằng cấp xã hiện gặp ba khó khăn lớn gồm: dữ liệu về diện tích được giao quản lý chưa đầy đủ và thiếu chính xác; nguồn lực quản lý hạn chế; và vai trò của UBND xã với tư cách chủ thể quản lý rừng chưa rõ ràng về mặt pháp lý.
Tại hội thảo, TS. Nguyễn Vinh Quang, Chuyên gia phân tích chính sách của Tổ chức Forest Trends, đã trình bày báo cáo nghiên cứu “Đất rừng do Uỷ ban nhân dân xã quản lý - Thực trạng và ý nghĩa đối với quy định chống mất rừng của EU và thị trường carbon rừng”.
Báo cáo cho thấy nhiều diện tích đất lâm nghiệp do xã quản lý đã và đang được người dân sử dụng để trồng cà phê, keo, bạch đàn, điều hoặc các loại cây nông nghiệp khác trong thời gian dài nhưng chưa được hoàn thiện về mặt pháp lý. Tại xã Vĩnh Thạnh (Gia Lai), nhiều hộ dân đã canh tác ổn định trên các diện tích có nguồn gốc từ lâm trường cũ hơn 20 năm nay, nhưng quyền sử dụng đất vẫn chưa được xử lý dứt điểm.
Theo TS. Nguyễn Vinh Quang, những bất cập trong quản lý đất rừng do cấp xã quản lý đang tạo ra nhiều thách thức mới trong bối cảnh Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) sẽ chính thức có hiệu lực từ cuối năm 2026. Quy định này yêu cầu các sản phẩm như cà phê, gỗ và các mặt hàng liên quan phải chứng minh không gây mất rừng sau ngày 31/12/2020, đồng thời phải truy xuất nguồn gốc tới từng lô đất sản xuất.
Tuy nhiên, với thực trạng hồ sơ pháp lý chưa hoàn chỉnh, dữ liệu đất đai thiếu đồng bộ và ranh giới sử dụng đất chưa rõ ràng, nhiều sản phẩm được sản xuất trên diện tích đất do xã quản lý có nguy cơ không đáp ứng được yêu cầu của thị trường EU".
Không chỉ ảnh hưởng đến xuất khẩu, các tồn tại hiện nay còn làm giảm cơ hội tham gia thị trường tín chỉ carbon rừng. Hiện UBND cấp xã đang quản lý hơn 20% diện tích rừng cả nước, trong đó có nhiều khu vực có tiềm năng hấp thụ và lưu trữ carbon đáng kể. Tuy nhiên, việc thiếu dữ liệu chính xác, ranh giới không rõ ràng và quyền sử dụng đất chưa được xác lập đầy đủ đang khiến nhiều dự án carbon rừng khó triển khai, làm mất cơ hội tạo nguồn tài chính mới cho công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, đây là một trong những rào cản lớn cần sớm được tháo gỡ.
Để giải quyết tận gốc vấn đề, TS. Nguyễn Vinh Quang đề xuất cần khẩn trương rà soát toàn diện hiện trạng đất rừng do xã quản lý trên phạm vi cả nước; hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai và tài nguyên rừng; xác định rõ ranh giới, quyền sử dụng đất và cơ chế hưởng lợi từ rừng. Đồng thời, cần đẩy nhanh quá trình giao đất, giao rừng và từng bước chuyển giao các diện tích hiện do cấp xã quản lý cho những chủ rừng phù hợp hơn.
Theo ông Quang, chỉ khi các diện tích rừng có chủ thể quản lý rõ ràng, gắn quyền lợi với trách nhiệm và được quản lý trên cơ sở dữ liệu minh bạch, Việt Nam mới có thể nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về phát triển bền vững, tận dụng cơ hội từ EUDR cũng như thị trường carbon rừng trong thời gian từng
Bất chấp bức tranh ảm đạm của thị trường dệt may toàn cầu với những con số sụt giảm kỷ lục từ các cường quốc nhập khẩu, 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu hợp nhất toàn Tập đoàn dệt may Việt Nam tăng 6,5% so cùng kỳ, hoàn thành 46% kế hoạch năm; lợi nhuận hợp nhất tăng 14,4% so cùng kỳ, hoàn thành 55% kế hoạch năm...
Khi lợi thế nhân công giá rẻ dần mất đi, Việt Nam cần chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn và sản xuất thông minh. Các chuyên gia Đức khẳng định: Thay đổi tư duy lãnh đạo và nâng chất nguồn nhân lực là "chìa khóa" để Việt Nam bứt phá trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Trong giai đoạn 2023 - 2025, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 23–24% mỗi năm.Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn, ngành rau quả cần quyết liệt tháo gỡ hai "điểm nghẽn" là sản xuất nhỏ lẻ thiếu chuẩn hóa và tỷ lệ chế biến sâu còn thấp so với tiềm năng...
Từ khâu chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển đến tiêu thụ, thịt gia cầm lưu thông trên toàn địa bàn TP.Hồ Chí Minh sẽ từng bước được nhận diện và truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ số. Mục tiêu nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu truy xuất minh bạch, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm và kiểm soát chất lượng sản phẩm...
Trong bối cảnh nguồn cung ứng và hạ tầng truyền tải phải vận hành chạm ngưỡng giới hạn, tiết kiệm điện không còn là khẩu hiệu mang tính phong trào hay giải pháp ứng phó tạm thời, mà đã trở thành một yêu cầu cấp bách, một "nguồn năng lượng" đặc biệt cần được khai thác một cách thường xuyên và đồng bộ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.