Theo Thông tư quy định mức thu tiền sử dụng khu vực biển cụ thể thuộc thẩm quyền giao khu vực biển của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, một trong những nội dung quan trọng là cách tiếp cận định giá theo vị trí địa lý và phân chia cụ thể từng không gian biển.
Cụ thể, khu vực biển được chia thành: vùng biển liên vùng và các dải từ 6-9 hải lý, 9-12 hải lý, 12-15 hải lý, ngoài 15 hải lý. Trên cơ sở phân vùng này, Thông tư quy định mức thu tiền sử dụng khu vực biển cụ thể trong vùng biển từ 06 hải lý cho đến hết vùng biển của Việt Nam với nguyên tắc giảm dần theo khoảng cách từ bờ ra biển.
Điển hình như, đối với hoạt động nhận chìm, mức thu tiền sử dụng khu vực biển trong vùng biển từ 6-9 hải lý là 20.000 đồng/m3; từ 9-12 hải lý là 18.500 đồng/m3; từ 12-15 hải lý là 16.500 đồng/m3; ngoài 15 hải lý là 15.000 đồng/m3.
Đối với nhóm hoạt động cảng biển, cảng dầu khí ngoài khơi; vùng nước phục vụ khu dịch vụ vui chơi giải trí, thể thao trên biển; khai thác dầu khí; khai thác khoáng sản…, mức thu tiền sử dụng khu vực biển trong vùng biển từ 6-9 hải lý là 7.300.000 triệu đồng/ha/năm; ngoài 15 hải lý là 6.500.000 triệu đồng/ha/năm.
Sử dụng khu vực biển để khai thác năng lượng gió, sóng, thủy triều, dòng hải lưu và các hoạt động sử dụng khu vực biển khác, mức thu tiền sử dụng khu vực biển trong vùng biển từ 6-9 hải lý là 7.000.000 đồng/ha/năm; từ 9-12 hải lý là 5.500.000 đồng/ha/năm; từ 12-15 hải lý là 4.500.000 đồng/ha/năm; ngoài 15 hải lý là 3.000.000 đồng/ha/năm.
Đối với nuôi trồng thủy sản, xây dựng cảng cá, mức thu tiền sử dụng khu vực biển trong vùng biển từ 6-9 hải lý là 7.000.000 đồng/ha/năm và giảm dần xuống còn 4.000.0000 đồng/ha/năm khi ra ngoài 15 hải lý.
Đáng chú ý, Thông tư cũng quy định rõ, trong trường hợp phạm vi khu vực biển được giao nằm trong nhiều vùng biển thì mức thu tiền sử dụng khu vực biển cụ thể được xác định cho từng phần diện tích khu vực biển thuộc các vùng biển tương ứng.
Bên cạnh đó, tại vùng biển liên vùng nhiều hoạt động được áp dụng mức thu 7.500.000 đồng/ha/năm. Ví dụ như sử dụng khu vực biển để làm cảng biển, cảng nổi, cảng dầu khí ngoài khơi; làm vùng nước trước cầu cảng, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển tải, luồng hàng hải chuyên dùng;
Bên cạnh đó là vùng nước phục vụ hoạt động của cơ sở sửa chữa, đóng mới tàu thuyền, xây dựng cảng tàu vận tải hành khách; vùng nước phục vụ hoạt động nhà hàng, khu dịch vụ vui chơi, giải trí, thể thao trên biển; khu neo đậu, trú nghỉ đêm của tàu thuyền du lịch; khai thác dầu khí; khai thác khoáng sản;...
Mức thu tiền sử dụng khu vực biển để khai thác năng lượng gió, sóng, thủy triều, dòng hải lưu và các hoạt động sử dụng khu vực biển khác là 7.500.000 đồng/ha/năm.
Được áp dụng đến hết ngày 31/3/2031, quy định này được kỳ vọng sẽ tạo ra những thay đổi trong cách thức khai thác và sử dụng tài nguyên biển. Việc phân tầng mức thu, ưu tiên phát triển ngoài khơi, khuyến khích khai thác xa bờ góp phần phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững.



Các cơ chế quốc tế như cơ chế toàn cầu về bù đắp và giảm thiểu carbon trong lĩnh vực hàng không quốc tế (CORSIA) của ICAO, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh Châu Âu cùng các yêu cầu về phát thải trong chuỗi cung ứng đang tạo ra áp lực ngày càng lớn đối với các quốc gia xuất khẩu, trong đó có Việt Nam...
Brussels đang tiến hành cấm sử dụng nguồn tài trợ của Liên minh châu Âu (EU) cho các dự án năng lượng sạch có sử dụng biến tần (inverter) cho điện mặt trời và hệ thống lưu trữ pin đến từ các “quốc gia có rủi ro cao”, mà chủ yếu là Trung Quốc. Theo đó, các nhà phát triển dự án sẽ phải chuyển sang sử dụng các giải pháp thay thế từ châu Âu, nhưng điều này có thể khiến hóa đơn năng lượng và chi phí sản xuất tại châu Âu tăng lên.
Khi nhu cầu điện tăng mạnh dưới tác động của AI, trung tâm dữ liệu và xu hướng điện khí hóa, việc bảo đảm độ tin cậy của hệ thống thông qua các giải pháp đo lường, kiểm định và giám sát kỹ thuật đang trở thành yếu tố then chốt của quá trình chuyển dịch năng lượng...
Việt Nam cùng đại diện các quốc gia thành viên Thỏa thuận Paris đang họp tại Đức để thảo luận nhiều vấn đề về thực hiện mục tiêu khí hậu toàn cầu...
Từ nguồn gỗ rừng trồng tại Gia Lai, viên nén đen đang trở thành sản phẩm giá trị gia tăng cao, góp phần thúc đẩy chuyển đổi xanh và nâng tầm ngành lâm sản địa phương...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.