Kịch bản nguồn nước mùa cạn 2025-2026 trên lưu vực sông Cửu Long vừa được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố được xây dựng trên cơ sở phân tích toàn diện hiện trạng, dự báo khí tượng- thủy văn, diễn biến nguồn nước, nhu cầu khai thác và yêu cầu bảo đảm an ninh nguồn nước của vùng. Thời kỳ đánh giá kéo dài từ tháng 11/2025 đến tháng 5/2026.
MỘT SỐ TỈNH CÓ NGUY CƠ THIẾU NƯỚC CỤC BỘ TRONG MÙA HẠN 2025-2026 DO XÂM NHẬP MẶN
Theo kịch bản, so với cùng kỳ 2024- 2025 nhu cầu khai thác sử dụng nước của các ngành trên lưu vực từ tháng 11/2025 đến tháng 5/2026 có xu thế tăng khoảng 0,7%.
Cụ thể, về nhu cầu cấp nước sinh hoạt, công nghiệp, kinh doanh, dịch vụ, hiện tại trên lưu vực có khoảng 1.933 công trình cấp nước tập trung với nhu cầu khai thác khoảng 3,02 triệu m3/ngày đêm.
Đối với sản xuất nông nghiệp, tổng nhu cầu sử dụng nước cho tưới, chăn nuôi, thủy sản từ tháng 11/2025 đến tháng 5/2026 trên lưu vực khoảng 24,5 tỷ m3.
Trong đó, nhu cầu sử dụng nước nhiều nhất tập trung vào tháng 01 và 02 tại các tỉnh Đồng Tháp, Tây Ninh và nhu cầu sử dụng nước ít nhất vào tháng 5 tại các tỉnh Cà Mau, Tây Ninh, Vĩnh Long, Đồng Tháp và TP. Cần Thơ. Tỉnh An Giang sử dụng nhiều nước nhất, tập trung vào các tháng 01, 02 và TP. Cần Thơ sử dụng ít nhất, tập trung vào tháng 5.
Trên cơ sở hiện trạng, dự báo xu thế diễn biến nguồn nước, khí tượng, thủy văn, nhu cầu khai thác, sử dụng nước trên lưu vực và các yêu cầu về đảm bảo an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, kịch bản đã nhận định khả năng đáp ứng của nguồn nước trên lưu vực sông mùa cạn năm 2025-2026.
Về nguồn nước thượng nguồn, dòng chảy từ Biển Hồ có khả năng cấp nước cho hạ lưu từ tháng 11/2025 đến tháng 5/2026 với tổng lượng nước đạt khoảng 47 tỷ m3, cao hơn trung bình nhiều năm và cùng kỳ 2024-2025 từ 20-21%.
Tại trạm Kratie, tổng lượng dòng chảy từ tháng 11/2025 đến tháng 5/2026 dự báo đạt khoảng 100-112 tỷ m3, có khả năng cao hơn trung bình nhiều năm và cùng kỳ từ 10-25%.
Đối với khả năng nguồn nước khu vực đồng bằng sông Cửu Long, theo kịch bản, về nguồn nước mặt, tổng lượng nước về vùng này tại trạm Tân Châu và Châu Đốc ước đạt 150-170 tỷ m3, cao hơn 10-25% so với trung bình nhiều năm và cùng kỳ. Dự báo trong các tháng mùa cạn, trên vùng đồng bằng sông Cửu Long có khả năng xuất hiện mưa trái mùa, góp phần cải thiện nguồn nước cục bộ cho vùng.
Về nguồn nước dưới đất, dự báo từ tháng 11/2025 đến tháng 5/2026 cơ bản ổn định, đảm bảo khả năng cấp nước cho các công trình khai thác. Tuy nhiên, tùy thuộc vào mức độ bổ cập tự nhiên, phân bố khai thác tập trung, chế độ vận hành khai thác mà mức độ đáp ứng nguồn nước về số lượng và chất lượng tại các khu vực sẽ khác nhau.
Về xâm nhập mặn, kịch bản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định khả năng xâm nhập mặn tại các địa phương trong vùng ở mức thấp hơn mùa cạn năm 2024-2025. Ở Tây Ninh, hệ thống các công trình kiểm soát mặn cơ bản đảm bảo. Xâm nhập mặn cao nhất có thể đến Tầm Vu, Vĩnh Công, Tân An, Tân Trụ theo sông Vàm Cỏ Tây và tới Bình Đức, Bến Lức theo sông Vàm Cỏ Đông.
Tại Đồng Tháp, xâm nhập mặn theo hướng sông Tiền trong thời kỳ cao điểm có thể lên đến Mỹ Phong theo nhánh sông Cửu Tiểu và Mỹ Tho trên nhánh sông Cửa Đại.
Tỉnh Vĩnh Long, do hệ thống các công trình kiểm soát mặn chưa hoàn chỉnh, mặn có thể lên đến phường Bến Tre theo hướng sông Hàm Luông, lên đến xã Nhuận Phú Tân, Quới Thiện theo hướng sông Cổ Chiên và lên đến xã An Phú Tân theo hướng sông Hậu.
Ở Cần Thơ, hệ thống các công trình kiểm soát mặn cơ bản đảm bảo, xâm nhập theo hướng sông Hậu vào thời kỳ cao điểm có thể lên đến các xã Nhơn Mỹ, Thới An Hội. Đối với các khu vực dọc theo tuyến sông Cái Lớn, xâm nhập mặn cơ bản được kiểm soát bởi hệ thống cống Cái Lớn, Cái Bé.
Riêng với tỉnh Cà Mau, trên khu vực đã có hệ thống các công trình kiểm soát mặn thuộc hệ thống thủy lợi Quản Lộ- Phụng Hiệp. Tuy nhiên, khu vực vẫn thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn theo hướng sông Ông Đốc, Gành Hào.
GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU NGUY CƠ CÓ THỂ XẢY RA THIẾU NƯỚC, XÂM NHẬP MẶN
Nhìn tổng quan từ các yếu tố thượng nguồn, nguồn nước mặt, nước dưới đất và xâm nhập mặn, kịch bản nhận định nguồn nước mùa cạn 2025-2026 trên lưu vực được đánh giá ở trạng thái “bình thường”, cơ bản đáp ứng đầy đủ nhu cầu cấp nước sinh hoạt, an sinh xã hội, sản xuất kinh tế và bảo vệ môi trường. Phạm vi xâm nhập mặn đã phần nào được kiểm soát bởi các công trình ngăn mặn.
Tuy nhiên, nguy cơ thiếu nước cục bộ vẫn có thể xảy ra tại một số địa phương, đặc biệt là một số xã cuối nguồn thuộc các tỉnh: Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cà Mau mà nguyên nhân chủ yếu do xâm nhập mặn và hệ thống các công trình thủy lợi, hệ thống các công trình cấp nước tập trung chưa được hoàn thiện đồng bộ.
Để giảm nguy cơ có thể xảy ra thiếu nước, phòng chống xâm nhập mặn, đặc biệt là ưu tiên đảm bảo cấp nước sinh hoạt trên lưu vực trong các tình huống, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị Bộ Xây dựng và UBND các tỉnh trên lưu vực sông chỉ đạo việc chủ động lập kế hoạch khai thác, sử dụng nước theo nhu cầu thực tế của từng ngành và địa phương, dựa trên nguyên tắc tiết kiệm, tránh thất thoát và dự phòng thiếu nước trong các tháng cao điểm xâm nhập mặn.
Bộ đề nghị UBND các tỉnh/thành phố cần cập nhật dự báo khí tượng thủy văn để có các biện pháp chủ động phòng chống xâm nhập mặn do tình hình xâm nhập mặn trên lưu vực sông Cửu Long phụ thuộc vào nguồn nước từ thượng nguồn sông Mê Công, triều cường, mưa trái mùa và các biến động bất thường về thời tiết.
Cùng với đó chỉ đạo rà soát và cải tạo hệ thống thủy lợi để nâng cao khả năng tích trữ, lưu thông dòng chảy, tránh ứ đọng, ô nhiễm; rà soát, điều chỉnh việc vận hành hệ thống thủy lợi phù hợp với nhu cầu khai thác, sử dụng nước, diễn biến xâm nhập mặn; lập danh mục hồ, ao, đầm, vùng cấm hoặc hạn chế khai thác nước dưới đất.
Các cơ quan Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ phối hợp triển khai các kịch bản nguồn nước, điều hòa phân phối nước khi thiếu hụt diện rộng và báo cáo định kỳ hiện trạng nguồn nước. Các cục chuyên ngành sẽ hướng dẫn điều chỉnh cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi và nuôi trồng thủy sản theo diễn biến nguồn nước, đồng thời theo dõi, dự báo, cảnh báo khu vực nguy cơ thiếu nước, xâm nhập mặn.
Đối với các vùng có nguy cơ thiếu nước cục bộ, các tỉnh như Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cà Mau, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị cần chỉ đạo xây dựng kế hoạch ứng phó theo từng mức thiếu hụt, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, kết hợp khai thác nước mặt, nước dưới đất và nước mưa, tăng cường tích trữ nước, đồng thời đầu tư xây dựng các công trình điều tiết, trữ nước, đặc biệt tại vùng khan hiếm nước và đồng bào dân tộc thiểu số.
Để nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng nước, địa phương cần tổ chức chỉ đạo khai thác nước mặt, nước dưới đất và nước mưa theo hình thức kết hợp hoặc luân phiên; tăng cường việc tích trữ nước mưa để chủ động phòng chống hạn hán, thiếu nước; có giải pháp sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, tránh lãng phí nguồn nước. Hướng dẫn gieo trồng theo khuyến cáo chuyên môn và vận hành công trình thủy lợi linh hoạt theo diễn biến nguồn nước.
Đối với nước dưới đất, cần khẩn trương rà soát, công bố danh mục vùng hạn chế khai thác nước dưới đất trên địa bàn các tỉnh thành phố Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang, Cà Mau theo quy định.
Với các khu vực có điều kiện địa chất, nguồn nước phù hợp… có thể xem xét nghiên cứu triển khai áp dụng các mô hình bổ cập nhân tạo nước dưới đất nhằm phục hồi các tầng chứa nước, đặc biệt đối với các khu vực phụ thuộc lớn vào nguồn nước dưới đất như các vùng ven biển từ Vĩnh Long đến Cà Mau. Kiểm soát khai thác, sử dụng giếng khoan quy mô nhỏ và để giảm thiểu nguy cơ gây ô nhiễm, xâm nhập mặn và suy thoái nguồn nước dưới đất.
Đối với các khu vực có nguy cơ sụt lún, ô nhiễm, nhiễm mặn nguồn nước dưới đất cần tăng cường giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng nước dưới đất để giảm thiểu nguy cơ suy thoái về số lượng, chất lượng nước dưới đất, đặc biệt tại các khu vực tập trung khai thác quy mô lớn gần ranh mặn của tầng chứa nước…
Các cơ chế quốc tế như cơ chế toàn cầu về bù đắp và giảm thiểu carbon trong lĩnh vực hàng không quốc tế (CORSIA) của ICAO, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh Châu Âu cùng các yêu cầu về phát thải trong chuỗi cung ứng đang tạo ra áp lực ngày càng lớn đối với các quốc gia xuất khẩu, trong đó có Việt Nam...
Brussels đang tiến hành cấm sử dụng nguồn tài trợ của Liên minh châu Âu (EU) cho các dự án năng lượng sạch có sử dụng biến tần (inverter) cho điện mặt trời và hệ thống lưu trữ pin đến từ các “quốc gia có rủi ro cao”, mà chủ yếu là Trung Quốc. Theo đó, các nhà phát triển dự án sẽ phải chuyển sang sử dụng các giải pháp thay thế từ châu Âu, nhưng điều này có thể khiến hóa đơn năng lượng và chi phí sản xuất tại châu Âu tăng lên.
Khi nhu cầu điện tăng mạnh dưới tác động của AI, trung tâm dữ liệu và xu hướng điện khí hóa, việc bảo đảm độ tin cậy của hệ thống thông qua các giải pháp đo lường, kiểm định và giám sát kỹ thuật đang trở thành yếu tố then chốt của quá trình chuyển dịch năng lượng...
Việt Nam cùng đại diện các quốc gia thành viên Thỏa thuận Paris đang họp tại Đức để thảo luận nhiều vấn đề về thực hiện mục tiêu khí hậu toàn cầu...
Từ nguồn gỗ rừng trồng tại Gia Lai, viên nén đen đang trở thành sản phẩm giá trị gia tăng cao, góp phần thúc đẩy chuyển đổi xanh và nâng tầm ngành lâm sản địa phương...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.