
Theo đánh giá của các chuyên gia, thách thức lớn nhất trong năm 2026 là việc không thể duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng cao như năm 2025. Nếu tiếp tục nới lỏng như hiện nay, nguy cơ bất ổn vĩ mô sẽ gia tăng đáng kể.
TS. Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên cao cấp, Đại học Fulbright Việt Nam, nhận định: “Năm 2025, tăng trưởng tín dụng dự kiến đạt khoảng 20%. Sang năm 2026, mức này buộc phải giảm, dù vẫn ở hai chữ số, nhưng sẽ thấp hơn đáng kể để đảm bảo ổn định tài chính và kiểm soát lạm phát kỳ vọng.”
Thực tế, từ đầu năm đến nay, tín dụng và cung tiền đã tăng mạnh nhưng lạm phát công bố vẫn ở mức thấp, gây ra nhiều nghi ngờ về tính xác thực và độ phản ánh thực tế của số liệu CPI do Cục Thống kê công bố.
Theo các chuyên gia, một trong những nguyên nhân là cơ cấu rổ hàng hóa tính CPI hiện nay chưa thực sự phản ánh đầy đủ chi phí sinh hoạt thực tế, đặc biệt là nhóm hàng nhà ở – vốn chiếm tỷ trọng thấp hơn nhiều so với mức độ ảnh hưởng thực tế của nó đến chi tiêu hộ gia đình.
“Với phương pháp tính CPI như hiện nay, cung tiền tăng mạnh có thể không lập tức thể hiện qua lạm phát giá tiêu dùng, nhưng lại dễ dàng thúc đẩy giá tài sản, đặc biệt là bất động sản và thị trường chứng khoán. Thực tế cho thấy, năm nay tín dụng tăng trưởng mạnh đã đi kèm với đà tăng rõ rệt trên thị trường bất động sản và cổ phiếu”, TS. Nguyễn Tú Anh, Giám đốc nghiên cứu, Đại học VinUni, cảnh báo.
Ông Tú Anh cho biết điều đáng lo ngại là lạm phát giá tài sản không dừng lại ở đó. Sau một độ trễ nhất định, nó có xu hướng lan tỏa sang lạm phát tiêu dùng thông qua các kênh truyền dẫn như: giá thuê nhà, chi phí thuê mặt bằng, chi phí đầu vào trong chuỗi cung ứng dịch vụ và bán lẻ. Khi giá bất động sản tăng, giá thuê và chi phí sinh hoạt sẽ bị đẩy lên theo, từ đó gây áp lực lên CPI trong trung và dài hạn.
Do đó, dù CPI hiện tại chưa phản ánh áp lực lạm phát rõ rệt, nhưng rủi ro tiềm ẩn từ lạm phát tài sản vẫn là yếu tố mà nhà điều hành cần đặc biệt thận trọng khi cân nhắc các quyết định nới lỏng chính sách tiền tệ.
Nếu không kiểm soát tốt, lạm phát kỳ vọng có thể ảnh hưởng đến lãi suất danh nghĩa, tỷ giá và ổn định vĩ mô trong trung hạn.
TS. Nguyễn Xuân Thành nhận định, định hướng điều hành chính sách tiền tệ năm 2026 của Ngân hàng Nhà nước sẽ theo thứ tự ưu tiên: (1) giữ nguyên lãi suất điều hành, kể cả khi Fed cắt giảm lãi suất; (2) ổn định tỷ giá để kiểm soát dòng vốn và kỳ vọng thị trường; (3) ổn định mặt bằng lãi suất thị trường, tránh biến động bất thường; và (4) nếu thị trường liên ngân hàng hoặc tiền gửi chịu áp lực tăng lãi suất, Ngân hàng Nhà nước sẽ can thiệp thanh khoản hoặc mở rộng cung tiền có kiểm soát.
TS. Nguyễn Tú Anh nhận định, cán cân tài chính hiện đang chịu áp lực do dòng vốn gián tiếp và đầu tư ngắn hạn rút ra, đặc biệt từ năm 2024 khi Việt Nam chủ động hạ lãi suất trong khi lãi suất toàn cầu duy trì ở mức cao. Ông cho biết: “Trước 2022, Việt Nam thường ghi nhận thặng dư tài chính do dòng vốn quốc tế vào mạnh. Tuy nhiên, xu hướng này đã đảo chiều từ năm 2024, khiến cán cân chuyển sang trạng thái thâm hụt.”
Theo ông Tú Anh, nếu dòng vốn nước ngoài quay lại, cán cân tài chính có thể trở lại thặng dư, giảm áp lực lên tỷ giá và tạo dư địa cho tăng trưởng tín dụng, cung tiền cũng như hạ lãi suất.
Tuy nhiên, từ góc nhìn thực tiễn, ông Phạm Như Ánh, Tổng giám đốc MB, cho rằng trong ngắn hạn, dòng tiền quốc tế chưa thể đảo chiều nên cán cân tài chính khó có cải thiện đáng kể.
Tổng giám đốc MB phân tích: “Lãi suất điều hành của Fed hiện ở mức 3,75–4%. Nếu đưa USD vào Việt Nam rồi rút về sau một năm, chênh lệch lợi suất chỉ khoảng 2% (5% lãi suất nội địa trừ 3% tỷ lệ trượt giá) – thấp hơn gửi trực tiếp tại Mỹ với lãi suất 4%. Vì vậy, dòng vốn khó vào Việt Nam trong bối cảnh hiện tại.”
Về xu hướng lãi suất trong nước, ông cho biết việc lãi suất huy động tăng gần đây là tín hiệu thì trường phản ánh áp lực tỷ giá và không đáng lo ngại:“Ngay cả khi lãi suất tăng thêm 0,5–1 điểm %, mặt bằng lãi suất tại Việt Nam hiện nay vẫn thấp so với trước đây và so với Trung Quốc hay Mỹ, xét trên cả vay và gửi”. Ông cũng lưu ý rằng tăng trưởng tín dụng năm nay dự kiến đạt 19–20%, trong đó khu vực FDI đóng góp đáng kể. Các doanh nghiệp FDI đang tận dụng mức lãi suất 4–5%/năm tại Việt Nam – thấp hơn nhiều so với 6–7% tại nước sở tại – tạo ra một nghịch lý đáng chú ý.
Trong ngắn hạn, ông Phạm Như Ánh dự báo mặt bằng lãi suất có thể giảm nhẹ trở lại hoặc đi ngang trong nửa đầu năm 2026 và tăng trở lại vào nửa cuối năm trước khi hạ nhiệt vào năm 2027.
Dự báo dài hạn, ông Ánh cho rằng nếu Fed hạ lãi suất xuống dưới 3%, kinh tế Việt Nam phục hồi mạnh và chính sách vĩ mô ổn định, dòng vốn quốc tế sẽ có cơ sở quay trở lại. Nếu GDP Việt Nam tăng trưởng khoảng 10% như mục tiêu Chính phủ đề ra, lợi suất đầu tư sẽ vượt xa phần chênh lệch lãi suất, đủ hấp dẫn để hút vốn ngoại trở lại.
Dù hồi phục trong hai phiên ngày thứ Năm và thứ Sáu, giá vàng vẫn giảm trong tuần này...
UOB giữ dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2026 ở mức 7%, triển vọng tăng trưởng tiếp tục cho thấy sức chống chịu trước áp lực gia tăng và những biến động bên ngoài. Dù vậy, vẫn cần lưu ý đến lạm phát, tỷ giá và biến động giá năng lượng toàn cầu vẫn có thể tạo áp lực trong thời gian tới...
Trong phiên sáng 12/6, dù các doanh nghiệp tăng giá vàng mua vào mạnh hơn giá bán ra khiến chênh lệch giá mua, bán vàng miếng và vàng nhẫn thu hẹp từ 5 triệu đồng trong phiên hôm qua (11/6) xuống 3,5 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, vẫn cao so với mức thông thường từ 1,5 đến 2 triệu đồng/lượng...
Dưới đây là triển vọng chính sách tiền tệ của 10 ngân hàng trung ương lớn tại các thị trường phát triển, được gọi là nhóm G10...
Lập "hattrick" công nghệ tại The Asian Banker 2026, TPBank khẳng định chiến lược đúng đắn khi đưa trí tuệ nhân tạo (AI) và số hóa vào tối ưu hóa năng lực vận hành, nâng tầm trải nghiệm khách hàng.
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.