Đối với lãi suất huy động bình quân kỳ hạn 12 tháng trở lên, nhóm ngân hàng lớn giảm 0,44 điểm phần trăm từ 6,44 xuống 6%/năm. Nhóm ngân hàng còn lại giảm nhẹ 0,1 điểm phần trăm từ 6,15 xuống 6,05%/năm.
Biểu lãi suất tiết kiệm tại quầy dành cho khách hàng cá nhân của 42 ngân hàng ngày 14/4/2026 cho thấy lãi suất huy động đã giảm 0,1 đến 0,5 điểm phần trăm so với cuối tháng 3/2026.
Cụ thể, lãi suất huy động bình quân các kỳ hạn 6 – 9 tháng của nhóm ngân hàng thương mại lớn ( Agribank, Vietcombank, BIDV, VietinBank, MB, VPBank, Techcombank, ACB) giảm 0,4 điểm phần trăm so với cuối tháng 3, từ mức 5,71 xuống 5,31 %/năm.
Cùng kỳ hạn này, các ngân hàng thương mại còn lại chỉ giảm 0,11 điểm phần trăm, từ mức 5,81%/năm xuống 5,7%/năm.
Đối với lãi suất huy động bình quân kỳ hạn 12 tháng trở lên, nhóm ngân hàng lớn giảm 0,44 điểm phần trăm từ 6,44 xuống 6%/năm. Nhóm ngân hàng còn lại giảm nhẹ 0,1 điểm phần trăm từ 6,15 xuống 6,05%/năm.
Cụ thể, lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 1 tháng cao nhất là 4,75%/năm, được áp dụng tại Hong Leong Bank, OCB, Saigonbank, Sacombank, VPBank, Saigonbank, VIB, PGBank, PublicBank, VCBNeo và BVBank.
Nhìn chung, mức lãi suất huy động 4,5 đến 4,75%/năm cho tiền gửi kỳ hạn 1 tháng xuất hiện dày đặc ở hơn một nửa số ngân hàng trong diện khảo sát.
Đối với tiền gửi 1 tháng, Vietcombank, BIDV và VietinBank cùng niêm yết lãi suất 2,1%/năm, trong khi Agribank ở mức 2,6%/năm. So với mức lãi suất phổ biến của khối ngân hàng tư nhân đang quanh 4,5 - 4,75%/năm, lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng của nhóm "Big4" thấp hơn tới 1,9 - 2,65 điểm phần trăm.
So với kỳ hạn 1 tháng, lãi suất huy động 3 tháng trên thị trường nhích thêm khoảng 0, - 0,25 điểm phần trăm. Có tới 14/42 ngân hàng, tương đương 30% đơn vị được khảo sát, đang cùng neo lãi suất 3 tháng trong vùng 4,7 - 4,75%/năm. Ở nhóm "Big 4", lãi suất huy động kỳ hạn 3 tháng tăng đồng loạt 0,3 điểm phần trăm so với kỳ hạn 1 tháng, từ vùng 2,1–2,6% lên 2,4 - 2,9%/năm. Như vậy, lãi suất huy động kỳ hạn 3 tháng của nhóm ngân hàng thương mại tư nhân đang cao hơn "Big 4" khoảng 2,2 điểm phần trăm.
Top 5 ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất kỳ hạn 6 tháng hiện gồm: HLBank dẫn đầu với 7,5%/năm, tiếp theo là Bắc Á 7,05%, BVBank 6,7%, PGBank 6,6% và VCBNeo 6,6%/năm. Ngay phía sau là nhóm bám đuổi rất sát như Saigonbank, MBV và OCB trong vùng 6,4 - 6,5%/năm. Như vậy, cạnh tranh lãi suất huy động đang tập trung dày ở vùng trên 6%/năm.
Xét mặt bằng chung, mức lãi suất tiết kiệm 6 tháng phổ biến nhất đang nằm trong khoảng 5,5 - 6%/năm, với mật độ rất lớn ở các ngân hàng như Techcombank, SHB, TPBank, VIB, LPBank, VietABank, VietBank và SeABank.
Như vậy, chênh lệch giữa ngân hàng có lãi suất huy động cao nhất kỳ hạn 6 tháng (HLBank) với mặt bằng chung khoảng 1,7 điểm phần trăm, còn Bắc Á cao hơn 1,25 điểm phần trăm.
Trong nhóm "Big 4", Vietcombank, BIDV và VietinBank cùng áp dụng lãi suất 3,5%/năm cho tiền gửi kỳ hạn 6 tháng, trong khi Agribank ở mức 4%/năm. Như vậy, khoảng cách giữa mức cao nhất 7,5% và nhóm thấp nhất 3,5% là 4 điểm phần trăm, còn chênh lệch giữa nhóm dẫn đầu với mặt bằng phổ biến khoảng 1,7 điểm phần trăm.
Các mức lãi suất tiết kiệm đề cập trong bài đều dành cho tiền gửi trực tiếp tại quầy của khách hàng cá nhân. Lãi suất tiền gửi online cao hơn lãi suất tại quầy từ 0,3 đến 0,7 điểm phần trăm, tuỳ từng tổ chức. Các ngân hàng đều có những chính sách lãi suất riêng áp dụng cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau, tuỳ thuộc vào giá trị tiền gửi. Ngoài ra, mức lãi suất huy động thực tế có thể thay đổi tùy vào tình hình cân đối vốn của từng chi nhánh ngân hàng.
Lãi suất huy động kỳ hạn 9 tháng gần như đi ngang so với kỳ hạn 6 tháng.
Ở kỳ hạn 12 tháng, mặt bằng lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của 42 ngân hàng tăng rõ rệt so với kỳ hạn 6 - 9 tháng.
Nhóm ngân hàng có lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng cao nhất thị trường vẫn là HLBank với 7,5%/năm, bỏ khá xa mặt bằng chung. Theo sau là MBV (OceanBank) 7,2%, Bắc Á Bank 7,1%, trong khi VIB và VCBNeo cùng 7%/năm.
So với kỳ hạn 6 - 9 tháng, nhiều ngân hàng đã điều chỉnh tăng mạnh lãi suất kỳ hạn 12 tháng, đáng chú ý VIB tăng tới 1,4 điểm phần trăm, từ 5,6% lên 7%/năm.
Ở nhóm Big 4, Vietcombank, BIDV, VietinBank và Agribank cùng niêm yết lãi suất huy động 12 tháng ở mức 5,9%/năm, tăng mạnh 1,9 - 2,4 điểm phần trăm so với kỳ hạn 6 - 9 tháng.
Xét toàn thị trường, mức lãi suất huy động 12 tháng phổ biến tập trung quanh 6,1 - 6,3%/năm.
Như vậy, lãi suất huy động 12 tháng của nhóm dẫn đầu đang cao hơn mặt bằng chung khoảng 1,2 - 1,4 điểm phần trăm, cao hơn 1,6 điểm phần trăm so với nhóm Big4.



Dù hồi phục trong hai phiên ngày thứ Năm và thứ Sáu, giá vàng vẫn giảm trong tuần này...
UOB giữ dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2026 ở mức 7%, triển vọng tăng trưởng tiếp tục cho thấy sức chống chịu trước áp lực gia tăng và những biến động bên ngoài. Dù vậy, vẫn cần lưu ý đến lạm phát, tỷ giá và biến động giá năng lượng toàn cầu vẫn có thể tạo áp lực trong thời gian tới...
Trong phiên sáng 12/6, dù các doanh nghiệp tăng giá vàng mua vào mạnh hơn giá bán ra khiến chênh lệch giá mua, bán vàng miếng và vàng nhẫn thu hẹp từ 5 triệu đồng trong phiên hôm qua (11/6) xuống 3,5 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, vẫn cao so với mức thông thường từ 1,5 đến 2 triệu đồng/lượng...
Dưới đây là triển vọng chính sách tiền tệ của 10 ngân hàng trung ương lớn tại các thị trường phát triển, được gọi là nhóm G10...
Lập "hattrick" công nghệ tại The Asian Banker 2026, TPBank khẳng định chiến lược đúng đắn khi đưa trí tuệ nhân tạo (AI) và số hóa vào tối ưu hóa năng lực vận hành, nâng tầm trải nghiệm khách hàng.
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.