Hiện nay, cả nước có 263 nghề truyền thống, 1.975 làng nghề và làng nghề truyền thống được công nhận, gồm 1.308 làng nghề và 667 làng truyền thống.
Ngày 25/9/2025, tại Đà Nẵng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với UBND thành phố Đà Nẵng tổ chức Hội nghị sơ kết 6 năm triển khai Nghị định số 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn và 3 năm thực hiện Chương trình bảo tồn, phát triển làng nghề theo Quyết định số 801/QĐ-TTg ngày 7/7/2022.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sau 6 năm triển khai Nghị định 52 và gần 3 năm thực hiện chương trình bảo tồn làng nghề, nhiều kết quả tích cực đã được ghi nhận, góp phần thiết thực vào chương trình xây dựng nông thôn mới và phát triển nông nghiệp bền vững.
Tổng doanh thu từ hoạt động ngành nghề nông thôn năm 2024 đạt 376.697 tỷ đồng, tăng 200.442 tỷ đồng so với năm 2019. Cả nước đã khôi phục, bảo tồn được 63 nghề truyền thống và 81 làng nghề có nguy cơ mai một.
Hiện nay, cả nước có 263 nghề truyền thống, 1.975 làng nghề và làng nghề truyền thống được công nhận, gồm 1.308 làng nghề và 667 làng truyền thống.
Lực lượng lao động trong ngành nghề nông thôn hiện có hơn 2,1 triệu người, tăng 789.000 lao động so với năm 2019. Thu nhập bình quân 4–5 triệu đồng/người/tháng, cao gấp đôi so với lao động thuần nông. Đáng chú ý, nhóm hàng thủ công mỹ nghệ chiếm tới 35% kim ngạch xuất khẩu hàng năm của khối sản phẩm ngành nghề nông thôn, đồng thời mở ra cơ hội phát triển du lịch trải nghiệm, quảng bá sản phẩm và văn hóa làng nghề.
Nhiều địa phương đã ban hành chính sách hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn, gắn kết hiệu quả với chương trình OCOP và du lịch cộng đồng. Hơn 300 làng nghề được hỗ trợ xúc tiến thương mại, phát triển thương hiệu, tham gia hội chợ trong và ngoài nước. Khoảng 27.000 người được đào tạo, tập huấn nâng cao tay nghề và quản trị sản xuất, trong đó có nhiều lớp dành riêng cho cán bộ hợp tác xã và nghệ nhân.
Bên cạnh đó, một số địa phương đã bắt đầu số hóa dữ liệu làng nghề, triển khai truy xuất nguồn gốc sản phẩm và ứng dụng công nghệ mới như lò nung khí sạch, sấy lạnh, xử lý môi trường tập trung. Đây được coi là bước đi quan trọng, tạo nền tảng cho tiến trình chuyển đổi số toàn diện trong phát triển ngành nghề nông thôn.
Dù đạt được nhiều kết quả tích cực, song ngành nghề nông thôn vẫn đối mặt với không ít khó khăn. Các đại biểu tại hội nghị chỉ ra rằng nguồn nguyên liệu tập trung còn thiếu, tiêu chí và quy trình công nhận làng nghề chưa đồng bộ, trong khi chính sách hỗ trợ nghệ nhân chưa đủ mạnh để khuyến khích đổi mới công nghệ và chuyển đổi số.
Hoạt động quản lý, đào tạo nghề và truyền dạy còn manh mún, thiếu sự liên kết chuỗi. Một số quy định tại Nghị định 52/2018/NĐ-CP chưa phù hợp với thực tiễn mới, đặc biệt là về phát triển hạ tầng, cơ sở dữ liệu số, bản đồ số, tín dụng xanh và tiêu chí làng nghề bền vững.
Bên cạnh đó, việc đầu tư còn dàn trải, chưa đi vào chiều sâu; xây dựng thương hiệu còn rời rạc; công tác xúc tiến thương mại và hội nhập quốc tế chưa khai thác hết tiềm năng. Đây là những rào cản lớn trong quá trình đưa sản phẩm làng nghề vươn xa hơn trên thị trường toàn cầu.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Lê Bá Ngọc, Phó Chủ tịch Hiệp hội Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam, cho rằng để ngành nghề nông thôn vươn ra thế giới cần tập trung vào 4 trụ cột: xây dựng vùng nguyên liệu bền vững; tổ chức sản xuất theo chuẩn quốc tế; khuyến khích sáng tạo, thiết kế sản phẩm mới; và đẩy mạnh xúc tiến thương mại gắn với chuyển đổi số.
Cùng với góp ý, ông Ngọc cũng đề xuất thành lập Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia về thủ công tại những địa phương có thế mạnh, đồng thời xây dựng bảo tàng thủ công nhằm lưu giữ, quảng bá giá trị truyền thống.
Nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả (làng tranh Đông Hồ, Bắc Ninh) bày tỏ lo ngại rằng nếu thiếu chính sách hỗ trợ kịp thời, nguy cơ mai một làng nghề rất lớn. Do đó, kiến nghị Nhà nước cần có chế độ đãi ngộ để nghệ nhân sống được với nghề, đồng thời phát triển các hoạt động trải nghiệm gắn với giáo dục để khơi dậy niềm đam mê của thế hệ trẻ.
Ở một góc nhìn khác, nghệ nhân Huỳnh Phương Đỏ (Hội An, Đà Nẵng) cho rằng việc kết hợp thủ công mỹ nghệ với du lịch, cũng như quảng bá qua mạng xã hội, là hướng đi phù hợp để nghề truyền thống thích ứng với đời sống hiện đại.
Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng khẳng định ngành nghề nông thôn và làng nghề truyền thống không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa, hồn cốt dân tộc. Để đưa làng nghề trở thành trụ cột văn hóa – kinh tế trong chiến lược phát triển nông thôn bền vững, cần sớm hoàn thiện thể chế, sửa đổi Nghị định 52 theo tinh thần “xanh hơn, số hơn, vươn xa hơn”.
Thứ trưởng Võ Văn Hưng nhấn mạnh 5 định hướng trọng tâm:
Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình công nhận làng nghề gắn với tiêu chí phát triển kinh tế, văn hóa, môi trường và du lịch.
Thứ hai, xây dựng vùng nguyên liệu theo hướng hữu cơ, tuần hoàn, bảo đảm chất lượng và tính bền vững.
Thứ ba, đẩy mạnh quảng bá, kết nối thị trường trong và ngoài nước, nâng cao giá trị sản phẩm.
Thứ tư, tăng tốc chuyển đổi số, số hóa dữ liệu làng nghề, thúc đẩy truy xuất nguồn gốc và hội nhập tiêu chuẩn quốc tế.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực, có chính sách đãi ngộ nghệ nhân, đồng thời ươm tạo thế hệ kế cận.
“Trong bối cảnh mới, bên cạnh nhiều cơ hội cũng có không ít thách thức cạnh tranh. Tuy nhiên, nếu chúng ta đồng hành cùng nghệ nhân, làng nghề, nông dân và người lao động khu vực nông thôn, chắc chắn sẽ đạt được những kết quả khởi sắc trong thời gian tới”, Thứ trưởng Võ Văn Hưng nhấn mạnh, đồng thời kêu gọi các bộ, ngành, địa phương và cơ quan liên quan nêu cao tinh thần trách nhiệm, góp phần hoàn thiện thể chế, khắc phục tình trạng văn bản còn chồng chéo, chưa thực sự thúc đẩy phát triển. Chỉ khi tập trung vào các nội dung cốt lõi, việc bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề truyền thống mới đạt được những kết quả thiết thực, bền vững.
Bất chấp bức tranh ảm đạm của thị trường dệt may toàn cầu với những con số sụt giảm kỷ lục từ các cường quốc nhập khẩu, 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu hợp nhất toàn Tập đoàn dệt may Việt Nam tăng 6,5% so cùng kỳ, hoàn thành 46% kế hoạch năm; lợi nhuận hợp nhất tăng 14,4% so cùng kỳ, hoàn thành 55% kế hoạch năm...
Khi lợi thế nhân công giá rẻ dần mất đi, Việt Nam cần chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn và sản xuất thông minh. Các chuyên gia Đức khẳng định: Thay đổi tư duy lãnh đạo và nâng chất nguồn nhân lực là "chìa khóa" để Việt Nam bứt phá trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Trong giai đoạn 2023 - 2025, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 23–24% mỗi năm.Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn, ngành rau quả cần quyết liệt tháo gỡ hai "điểm nghẽn" là sản xuất nhỏ lẻ thiếu chuẩn hóa và tỷ lệ chế biến sâu còn thấp so với tiềm năng...
Từ khâu chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển đến tiêu thụ, thịt gia cầm lưu thông trên toàn địa bàn TP.Hồ Chí Minh sẽ từng bước được nhận diện và truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ số. Mục tiêu nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu truy xuất minh bạch, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm và kiểm soát chất lượng sản phẩm...
Trong bối cảnh nguồn cung ứng và hạ tầng truyền tải phải vận hành chạm ngưỡng giới hạn, tiết kiệm điện không còn là khẩu hiệu mang tính phong trào hay giải pháp ứng phó tạm thời, mà đã trở thành một yêu cầu cấp bách, một "nguồn năng lượng" đặc biệt cần được khai thác một cách thường xuyên và đồng bộ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.