Ngày 10/4/2026, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tổ chức Diễn đàn Hợp tác xã Quốc gia 2026 với chủ đề: “Kết nối kinh tế hợp tác với hệ sinh thái kinh tế tư nhân”.
Phát biểu khai mạc Diễn đàn, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam Cao Xuân Thu Vân nhấn mạnh sự kiện diễn ra trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW, xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Trong hệ sinh thái đó, vấn đề không còn là vai trò của hợp tác xã, mà là vị trí, chức năng và cách thức liên kết để cùng phát triển với khu vực tư nhân.
Tính đến tháng 3/2026, cả nước có khoảng 35.197 hợp tác xã với gần 7 triệu thành viên. Tuy nhiên, theo bà Vân, không một khu vực kinh tế nào có thể phát triển đơn lẻ. Doanh nghiệp cần vùng nguyên liệu ổn định; nông dân cần đầu ra bền vững; công nghệ cần môi trường ứng dụng; còn tài chính cần các mô hình khả thi. Vì vậy, kết nối giữa hợp tác xã và kinh tế tư nhân là tất yếu khách quan.
Ông Đỗ Mạnh Khởi, Phó cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) cho rằng liên kết giữa doanh nghiệp và hợp tác xã ngày càng thể hiện rõ vai trò cộng sinh, giúp hợp tác xã mở rộng hoạt động, giảm chi phí đầu vào và nâng cao lợi nhuận, đồng thời nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của thành viên.
Năm 2025 cả nước có gần 1,02 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, với gần 297.500 doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường, tăng mạnh so với năm trước. Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2025 của khu vực ngoài quốc doanh ước đạt 497.156 tỷ đồng, đạt 134,2% so với dự toán, tăng 26,8% so với năm 2024".
Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Hoàng Yến, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, cho biết thực tế mối liên kết giữa hai khu vực vẫn còn lỏng lẻo, thiếu tính hệ thống. Doanh nghiệp thường phát triển độc lập, chưa gắn bó chặt với hợp tác xã trong tổ chức sản xuất và cung ứng nguyên liệu. Các liên kết chủ yếu mang tính ngắn hạn, thiếu ổn định; cơ chế hợp đồng và chia sẻ lợi ích, rủi ro chưa rõ ràng; niềm tin giữa các bên còn hạn chế.
Trong bối cảnh nông nghiệp chuyển sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn, xanh và bền vững, mô hình phát triển rời rạc không còn phù hợp. Thay vào đó, cần chuyển sang “hệ sinh thái tích hợp”, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò dẫn dắt thị trường, hợp tác xã tổ chức sản xuất, còn Nhà nước kiến tạo và điều phối.
Giải pháp trọng tâm được bà Yến đề xuất là hoàn thiện thể chế liên kết chuỗi giá trị theo hướng đồng bộ, minh bạch và có tính ràng buộc cao; đồng thời sửa đổi chính sách hỗ trợ theo hướng đơn giản hóa thủ tục, phân cấp cho địa phương và bao trùm đầy đủ các chủ thể. Việc thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích và rủi ro rõ ràng, chuẩn hóa hợp đồng và gắn với bảo hiểm nông nghiệp là cần thiết để củng cố niềm tin và đảm bảo thực thi. Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống chính sách liên thông giữa sản xuất, thị trường, tài chính và khoa học công nghệ nhằm tạo môi trường thuận lợi cho phát triển bền vững.
Về phía ngành ngân hàng, ông Nguyễn Ngọc Cảnh - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho biết các chính sách tín dụng nông nghiệp đã được điều chỉnh theo hướng ưu đãi hơn, đặc biệt là nâng hạn mức cho vay không có tài sản bảo đảm lên đến 5 tỷ đồng đối với hợp tác xã. Những mô hình liên kết sản xuất hoặc ứng dụng công nghệ cao có thể vay tới 70-80% giá trị dự án mà không cần tài sản thế chấp.
Đến cuối tháng 1/2026, dư nợ tín dụng nông nghiệp, nông thôn đạt khoảng 4,2 triệu tỷ đồng, chiếm hơn 22% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Tuy nhiên, tín dụng dành cho hợp tác xã vẫn còn hạn chế do năng lực nội tại yếu, quy mô nhỏ, quản trị chưa chuyên nghiệp và chưa đáp ứng yêu cầu liên kết chuỗi giá trị.
Ngân hàng Nhà nước đề nghị Liên minh Hợp tác xã tăng cường hướng dẫn xây dựng các chương trình liên kết, hỗ trợ hạ tầng, công nghệ và nhân rộng các mô hình hợp tác xã hiệu quả. Đây được xem là giải pháp quan trọng để nâng cao khả năng tiếp cận vốn, thúc đẩy liên kết chuỗi và phát triển bền vững khu vực hợp tác xã trong thời gian tới.
Tại Diễn đàn, nhiều doanh nghiệp đã chia sẻ những kinh nghiệm và các giải pháp hợp tác với khu vực hợp tác xã. Ông Trần Mạnh Báo, Chủ tịch Tập đoàn ThaiBinh Seed, cho biết ban đầu doanh nghiệp triển khai mô hình “bao tiêu” với hợp tác xã thông qua cung cấp giống, hỗ trợ kỹ thuật và cam kết thu mua sản phẩm. Tuy nhiên, mô hình này bộc lộ hạn chế khi thị trường biến động hoặc xảy ra rủi ro như thiên tai, khiến liên kết dễ bị đứt gãy. Điều này thúc đẩy doanh nghiệp chuyển sang các hình thức hợp tác bền vững hơn.
Đến nay, ThaiBinh Seed đã xây dựng hơn 70 điểm liên kết trên cả nước, với diện tích gần 8.000 ha và sản lượng thu mua khoảng 30.000 tấn mỗi năm. Doanh nghiệp triển khai ba cấp độ hợp tác với hợp tác xã: (1) bao tiêu có cam kết thực chất, đảm bảo thu mua theo hợp đồng; (2) chuyển giao công nghệ, đào tạo kỹ thuật canh tác xanh; và (3) góp vốn, chia sẻ lợi ích được xem là hướng đi chiến lược lâu dài.
Theo ông Trần Mạnh Báo, khi chuyển từ bao tiêu sang góp vốn, mối quan hệ giữa hai bên thay đổi căn bản: lợi ích và rủi ro được chia sẻ, thay vì tách rời như trước. Với doanh nghiệp, việc góp vốn giúp ổn định vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng, giảm chi phí giao dịch và rủi ro hợp đồng, đồng thời mở rộng quy mô nhanh mà không cần đầu tư hạ tầng từ đầu. Ngoài ra, doanh nghiệp còn có cơ hội tiếp cận các chính sách ưu đãi dành cho kinh tế tập thể.
Với hợp tác xã, việc hợp tác này giúp tiếp cận nguồn vốn, công nghệ và hệ thống quản trị hiện đại, từ đó nâng cao năng lực sản xuất và hiệu quả hoạt động. Đồng thời, hợp tác xã có đầu ra ổn định hơn và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, qua đó gia tăng thu nhập cho thành viên.
Từ thực tiễn đó, ông Trần Mạnh Báo nhấn mạnh cần hoàn thiện thể chế theo hướng tạo “sân chơi” thông thoáng, cho phép doanh nghiệp góp vốn linh hoạt vào hợp tác xã. Đây được xem là chìa khóa để chuyển từ liên kết “bao tiêu” sang “đối tác chiến lược”, hướng tới phát triển bền vững và hiệu quả hơn trong nông nghiệp.



Bất chấp bức tranh ảm đạm của thị trường dệt may toàn cầu với những con số sụt giảm kỷ lục từ các cường quốc nhập khẩu, 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu hợp nhất toàn Tập đoàn dệt may Việt Nam tăng 6,5% so cùng kỳ, hoàn thành 46% kế hoạch năm; lợi nhuận hợp nhất tăng 14,4% so cùng kỳ, hoàn thành 55% kế hoạch năm...
Khi lợi thế nhân công giá rẻ dần mất đi, Việt Nam cần chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn và sản xuất thông minh. Các chuyên gia Đức khẳng định: Thay đổi tư duy lãnh đạo và nâng chất nguồn nhân lực là "chìa khóa" để Việt Nam bứt phá trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Trong giai đoạn 2023 - 2025, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 23–24% mỗi năm.Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn, ngành rau quả cần quyết liệt tháo gỡ hai "điểm nghẽn" là sản xuất nhỏ lẻ thiếu chuẩn hóa và tỷ lệ chế biến sâu còn thấp so với tiềm năng...
Từ khâu chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển đến tiêu thụ, thịt gia cầm lưu thông trên toàn địa bàn TP.Hồ Chí Minh sẽ từng bước được nhận diện và truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ số. Mục tiêu nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu truy xuất minh bạch, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm và kiểm soát chất lượng sản phẩm...
Trong bối cảnh nguồn cung ứng và hạ tầng truyền tải phải vận hành chạm ngưỡng giới hạn, tiết kiệm điện không còn là khẩu hiệu mang tính phong trào hay giải pháp ứng phó tạm thời, mà đã trở thành một yêu cầu cấp bách, một "nguồn năng lượng" đặc biệt cần được khai thác một cách thường xuyên và đồng bộ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.