Tại tọa đàm “Ứng phó hiệu quả với cơ chế CBAM: Vai trò của cơ quan đầu mối trong hỗ trợ doanh nghiệp” diễn ra ngày 16/9/2024, bà Nguyễn Hồng Loan, Chuyên gia Dự án Hỗ trợ kỹ thuật về đánh giá tác động của CBAM, cho biết khảo sát tháng 1/2023 (trước khi CBAM chính thức bắt đầu giai đoạn chuyển tiếp) cho thấy, nhận thức của doanh nghiệp về CBAM tại thời điểm đó tương đối thấp.
Đến nay, sau một năm khi CBAM chính thức được triển khai, nhận thức của doanh nghiệp cũng chưa cao. Ngoại trừ một số doanh nghiệp trong những lĩnh vực chịu tác động trực tiếp thì họ có những nghiên cứu và sự chuẩn bị một cách nghiêm túc. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực khác đại bộ phận hiểu chưa đầy đủ, chưa chính xác nên có những phản ứng, những chuẩn bị không hiệu quả.
Bà Loan ví dụ, rất nhiều doanh nghiệp nghĩ rằng khi xuất khẩu hàng hóa theo CBAM mà phát thải phải vượt trên ngưỡng do châu Âu quy định thì mới phải chịu tác động của CBAM. Tuy nhiên trên thực tế, CBAM bao trùm về phát thải toàn bộ của sản phẩm.
Bên cạnh đó, có những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực gạo, nhựa (hiện chưa là đối tượng chịu tác động) cũng liên hệ hỏi về tư vấn việc chuẩn bị cho CBAM.
Thậm chí, có nhiều doanh nghiệp lại phản ứng thái quá. Họ rất lo lắng về việc khi CBAM được áp dụng sẽ phải chịu giá carbon bằng với giá carbon của châu Âu.
“Đối với những cơ chế mới như CBAM, doanh nghiệp sẽ rất lúng túng để tìm hiểu các thông tin và chuẩn bị phản ứng của mình”, bà Loan nói.
Cũng theo vị chuyên gia này, nếu doanh nghiệp không thực hiện báo cáo phát thải khí nhà kính cho sản phẩm thì sẽ không thể xuất khẩu sản phẩm sang châu Âu. Trong khi việc kiểm kê khí nhà kính có rất nhiều tiêu chuẩn khác nhau: tiêu chuẩn ISO 14064, ISO 14067, các hướng dẫn của Thông tư về kiểm kê khí nhà kính của Bộ Công Thương cho thị trường carbon trong nước…
Hơn nữa, nếu không có sự hướng dẫn của cơ quan đầu mối chính thức, doanh nghiệp sẽ mất rất nhiều công sức để chuẩn bị, có thể sẽ lãng phí, không hiệu quả và không đáp ứng yêu cầu của CBAM. Hoặc có những doanh nghiệp vội vã mua tín chỉ carbon để chuẩn bị việc phản ứng với CBAM.
Trong khi đó, các yêu cầu, hướng dẫn của châu Âu vẫn chưa rõ ràng và chưa có sự công nhận liên quan đến các cơ chế giá carbon và bù trừ tín chỉ thì việc chuẩn bị của doanh nghiệp mang tính chất không có định hướng, không thông qua những kênh chính thống… có thể sẽ ảnh hưởng đến nỗ lực và thậm chí gây thiệt hại về mặt tài chính.
“Để hiểu tất cả những quy định, yêu cầu chi tiết của CBAM đòi hỏi doanh nghiệp cần phải có những nhận thức đầy đủ, đúng đắn từ những kênh truyền thông chính thức, hướng dẫn một cách chính thống về các quy định cụ thể của CBAM để giúp nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp”, bà Loan khuyến nghị.
Trước sự cấp thiết và cần phải có những biện pháp đồng bộ thích ứng với cơ chế CBAM, mới đây, Chính phủ giao Bộ Công Thương là cơ quan đầu mối, chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan liên quan xây dựng và triển khai các biện pháp hiệu quả ứng phó với Cơ chế CBAM, bao gồm việc xây dựng và triển khai Đề án ứng phó với Cơ chế СВАМ. Trong đó nhấn mạnh việc tiếp tục chủ động, tích cực đối thoại với EU, Vương quốc Anh... làm rõ sự phù hợp của CBAM với các cam kết quốc tế; nghiên cứu khả năng mở rộng phạm vi áp dụng của CBAM…
Theo các chuyên gia, việc có một cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm điều phối các biện pháp hiệu quả đối phó với CBAM và xây dựng Đề án ứng phó với cơ chế CBAM được cho là kịp thời, kỳ vọng sẽ đem lại hiệu quả cao trong việc hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu và bền vững vào chuỗi cung ứng hàng hóa với EU.
Ông Hoàng Văn Tâm, Vụ Tiết kiệm năng lượng và phát triển bền vững (Bộ Công Thương), cho biết chúng ta đã ban hành khá đầy đủ những cơ chế chính sách về việc thực hiện kiểm kê khí nhà kính và tính giá carbon theo yêu cầu của CBAM.
Tuy nhiên với những hướng dẫn kỹ thuật sâu hơn, để thích ứng với các quy định mới của từng thị trường như EU hay vương quốc Anh, trong thời gian tới Bộ Công Thương sẽ xây dựng sổ tay hướng dẫn nhằm giúp doanh nghiệp biết cách tính toán và áp dụng nó một cách phù hợp, linh hoạt với từng cơ chế khác nhau.
Đặc biệt, nhiều kiến nghị đề xuất chúng ta cần có cổng thông tin chính thống về CBAM bằng tiếng Việt. Ở đó, các quy định được chi tiết hóa, đi từng ngõ ngách CBAM, được giải thích cặn kẽ, hướng dẫn tỉ mỉ giúp doanh nghiệp Việt Nam tận dụng cũng như đối phó hiệu quả với CBAM trong thời gian tới.



Bất chấp bức tranh ảm đạm của thị trường dệt may toàn cầu với những con số sụt giảm kỷ lục từ các cường quốc nhập khẩu, 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu hợp nhất toàn Tập đoàn dệt may Việt Nam tăng 6,5% so cùng kỳ, hoàn thành 46% kế hoạch năm; lợi nhuận hợp nhất tăng 14,4% so cùng kỳ, hoàn thành 55% kế hoạch năm...
Khi lợi thế nhân công giá rẻ dần mất đi, Việt Nam cần chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn và sản xuất thông minh. Các chuyên gia Đức khẳng định: Thay đổi tư duy lãnh đạo và nâng chất nguồn nhân lực là "chìa khóa" để Việt Nam bứt phá trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Trong giai đoạn 2023 - 2025, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 23–24% mỗi năm.Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn, ngành rau quả cần quyết liệt tháo gỡ hai "điểm nghẽn" là sản xuất nhỏ lẻ thiếu chuẩn hóa và tỷ lệ chế biến sâu còn thấp so với tiềm năng...
Từ khâu chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển đến tiêu thụ, thịt gia cầm lưu thông trên toàn địa bàn TP.Hồ Chí Minh sẽ từng bước được nhận diện và truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ số. Mục tiêu nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu truy xuất minh bạch, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm và kiểm soát chất lượng sản phẩm...
Trong bối cảnh nguồn cung ứng và hạ tầng truyền tải phải vận hành chạm ngưỡng giới hạn, tiết kiệm điện không còn là khẩu hiệu mang tính phong trào hay giải pháp ứng phó tạm thời, mà đã trở thành một yêu cầu cấp bách, một "nguồn năng lượng" đặc biệt cần được khai thác một cách thường xuyên và đồng bộ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.