Đến ngày 25/2/2026, hệ thống ghi nhận 52.260 hồ sơ phát sinh, trong đó 50.446 hồ sơ trực tuyến, đạt tỷ lệ 96,53%. Bộ cũng đã rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa 79 thủ tục hành chính có thể thay thế thành phần hồ sơ bằng dữ liệu sẵn có.
Ngày 26/2/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có Công văn số 1753/BNNMT-KHCN gửi Bộ Công an về việc kết nối, đồng bộ dữ liệu từ Bộ lên Trung tâm Dữ liệu quốc gia. Đây là bước đi quan trọng nhằm hiện thực hóa Chiến lược dữ liệu ngành, đồng thời tạo nền tảng cho quản trị, điều hành dựa trên dữ liệu trong toàn ngành.
Theo Kế hoạch được giao, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phụ trách xây dựng, quản lý 25 cơ sở dữ liệu, hạ tầng thông tin. Đến nay, 4 hệ thống hạ tầng thông tin đã được xây dựng và đưa vào khai thác gồm: Hệ thống thư điện tử công vụ; Hệ thống Văn phòng điện tử và cơ sở dữ liệu văn bản, hồ sơ, tài liệu; Cổng thông tin điện tử của Bộ; Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu lưu trữ điện tử.
Bên cạnh đó, 21 cơ sở dữ liệu đã được xây dựng và đang tiếp tục nâng cấp, hoàn thiện theo hướng đáp ứng đầy đủ các tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. Định hướng này được cụ thể hóa trong Quyết định số 4731/QĐ-BNNMT ngày 11/11/2025 phê duyệt Chiến lược dữ liệu ngành nông nghiệp và môi trường đến năm 2030, định hướng đến năm 2035.
Để tăng cường chỉ đạo, điều phối, ngày 19/1/2026, Bộ đã ban hành Quyết định số 200/QĐ-BNNMT thành lập Ban Chỉ đạo về dữ liệu.
Một trong những kết quả nổi bật là hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, gắn với “Chiến dịch 90 ngày làm giàu, làm sạch dữ liệu đất đai”. Tổng số thửa đất đã rà soát, phân loại đạt 62,2 triệu thửa. Trong đó, hơn 42,5 triệu thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; đã xác thực, đồng bộ thông tin chủ sử dụng với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đủ điều kiện thay thế thành phần hồ sơ khi giải quyết thủ tục hành chính và tích hợp với VNeID. Trong số này, hơn 23,7 triệu thửa có đầy đủ dữ liệu thuộc tính, không gian, bản quét; hơn 18,7 triệu thửa chưa đầy đủ cả ba thành phần.
Hiện còn hơn 18,6 triệu thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận hoặc cần cập nhật, xác thực với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Về đồng bộ dữ liệu, tính đến ngày 18/12/2025, 34/34 tỉnh, thành phố với 3.289/3.321 xã, phường đã đồng bộ vào cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai tại Trung ương; tổng số thửa đất đã đồng bộ đạt trên 61,2 triệu thửa. Song song đó, các điều kiện kỹ thuật để kết nối, đồng bộ cơ sở dữ liệu đất đai với Trung tâm Dữ liệu quốc gia (C12) cũng đã được triển khai.
Trong lĩnh vực thủy sản, Bộ đã ban hành 2 thông tư làm cơ sở pháp lý triển khai định danh tàu thuyền trên nền tảng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, định danh và xác thực điện tử. Hạ tầng phục vụ kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã được chuẩn bị đầy đủ, đảm bảo liên thông dữ liệu đăng ký tàu cá, nhật ký khai thác, khai báo lưu trú cho thuyền viên và chủ tàu; đồng thời hoàn thành tích hợp trên ứng dụng VNeID.
Dữ liệu của 82.061 tàu cá đã được đối soát phục vụ đồng bộ với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nhằm làm sạch thông tin tàu, chủ tàu và thuyền viên.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, hệ thống đang quản lý hơn 8,3 triệu lô rừng trên toàn quốc. Hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp bao gồm nhiều cơ sở dữ liệu thành phần như: cơ sở dữ liệu tài nguyên rừng (228 trường thông tin), cơ sở dữ liệu phát triển rừng (136 trường), cơ sở dữ liệu bảo vệ rừng (89 trường), cơ sở dữ liệu chế biến và thương mại lâm sản (76 trường), cơ sở dữ liệu thực vật và động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (69 trường), cơ sở dữ liệu thống kê lâm nghiệp (95 trường). Khối lượng và cấu trúc dữ liệu cho thấy mức độ chi tiết và toàn diện trong quản lý ngành.
Cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia (giai đoạn I), vận hành từ năm 2022, đã tích hợp các cơ sở dữ liệu chuyên ngành như đa dạng sinh học, chất thải nguy hại, đánh giá tác động môi trường, quản lý chất thải rắn, bảo vệ môi trường làng nghề, ô nhiễm tồn lưu, nhập khẩu phế liệu, nguồn thải… Bước đầu hình thành nền tảng chia sẻ dữ liệu môi trường trong toàn ngành và với các bộ, ngành liên quan.
Bộ đã xây dựng và vận hành các Trung tâm dữ liệu dùng chung, đảm bảo khả năng xử lý song song và dự phòng. Trung tâm dữ liệu chính đặt tại Hà Nội đáp ứng cơ bản các yêu cầu kỹ thuật; trung tâm tại Cần Thơ đóng vai trò dự phòng, lưu trữ đối với các cơ sở dữ liệu, hệ thống quan trọng.
Cục Chuyển đổi số đã thiết kế, tạo lập mô hình dữ liệu tại Trung tâm dữ liệu của Bộ theo các quy định kỹ thuật, sẵn sàng khai thác, sử dụng và kết nối với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia (C12) cũng như các cơ sở dữ liệu của bộ, ngành, địa phương khác.
Từ ngày 1/1/2026, Bộ đã hoàn thành hợp nhất Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính theo mô hình tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương; tích hợp với Cổng Dịch vụ công quốc gia, Cổng thanh toán trực tuyến, cơ sở dữ liệu đăng ký doanh nghiệp; đang triển khai tích hợp với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (VNeID) và các hệ thống liên quan.
Đến ngày 25/2/2026, hệ thống ghi nhận 52.260 hồ sơ phát sinh, trong đó 50.446 hồ sơ trực tuyến, đạt tỷ lệ 96,53%. Bộ cũng đã rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa 79 thủ tục hành chính có thể thay thế thành phần hồ sơ bằng dữ liệu sẵn có.
Trong công tác chỉ đạo điều hành, Bộ đã xác định 14 chỉ tiêu thông tin, dữ liệu cung cấp phục vụ điều hành của Thủ tướng Chính phủ; ban hành danh mục thông tin, dữ liệu phục vụ chỉ đạo điều hành của Bộ, bảo đảm kết nối, cung cấp kịp thời.
Dù đạt nhiều kết quả, quá trình xây dựng và đồng bộ dữ liệu còn không ít khó khăn. Cơ chế, chính sách, định mức kinh tế – kỹ thuật về xây dựng, tạo lập dữ liệu còn thiếu; cơ chế tài chính cho duy trì, cập nhật dữ liệu chưa rõ ràng. Hạ tầng số còn tồn tại hệ thống rời rạc, công nghệ lạc hậu, phụ thuộc công nghệ đóng. Nguồn nhân lực chuyên trách chuyển đổi số còn thiếu; ngân sách chưa tương xứng.
Đặc thù dữ liệu ngành nông nghiệp và môi trường cũng đặt ra thách thức lớn. Dữ liệu đa dạng, dung lượng lớn, nhiều chiều; được thu thập từ điều tra, ảnh vệ tinh, trạm quan trắc, cảm biến… cần xử lý, chuẩn hóa trước khi cập nhật. Nhiều dữ liệu mang tính địa phương, phải kết nối, thu thập từ cơ sở. Không ít dữ liệu cập nhật theo thời gian thực như khí hậu, môi trường, cháy rừng, thiên tai, dịch bệnh… đòi hỏi hạ tầng và quy trình xử lý đồng bộ.



Bất chấp bức tranh ảm đạm của thị trường dệt may toàn cầu với những con số sụt giảm kỷ lục từ các cường quốc nhập khẩu, 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu hợp nhất toàn Tập đoàn dệt may Việt Nam tăng 6,5% so cùng kỳ, hoàn thành 46% kế hoạch năm; lợi nhuận hợp nhất tăng 14,4% so cùng kỳ, hoàn thành 55% kế hoạch năm...
Khi lợi thế nhân công giá rẻ dần mất đi, Việt Nam cần chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn và sản xuất thông minh. Các chuyên gia Đức khẳng định: Thay đổi tư duy lãnh đạo và nâng chất nguồn nhân lực là "chìa khóa" để Việt Nam bứt phá trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Trong giai đoạn 2023 - 2025, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 23–24% mỗi năm.Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn, ngành rau quả cần quyết liệt tháo gỡ hai "điểm nghẽn" là sản xuất nhỏ lẻ thiếu chuẩn hóa và tỷ lệ chế biến sâu còn thấp so với tiềm năng...
Từ khâu chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển đến tiêu thụ, thịt gia cầm lưu thông trên toàn địa bàn TP.Hồ Chí Minh sẽ từng bước được nhận diện và truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ số. Mục tiêu nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu truy xuất minh bạch, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm và kiểm soát chất lượng sản phẩm...
Trong bối cảnh nguồn cung ứng và hạ tầng truyền tải phải vận hành chạm ngưỡng giới hạn, tiết kiệm điện không còn là khẩu hiệu mang tính phong trào hay giải pháp ứng phó tạm thời, mà đã trở thành một yêu cầu cấp bách, một "nguồn năng lượng" đặc biệt cần được khai thác một cách thường xuyên và đồng bộ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.