Ngày 9/2/2026, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Quyết định số 263/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025- 2026.
Theo Quyết định này, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025- 2026 để phân bổ cho 34 nhà máy nhiệt điện, 25 cơ sở sản xuất sắt thép, 51 cơ sở sản xuất xi măng.
Cụ thể, tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025 là 243.082.392 tấn CO2tđ. Tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2026 là 268.391.454 tấn CO2tđ.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho năm 2025 và năm 2026 cho từng nhà máy nhiệt điện, cơ sở sản xuất sắt thép, cơ sở sản xuất xi măng và hướng dẫn triển khai thực hiện; tổ chức đánh giá, tổng kết quá trình thí điểm, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về kiểm kê khí nhà kính, phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính.
Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng theo dõi, đánh giá việc thực hiện hạn ngạch của các cơ sở được phân bổ hạn ngạch trong phạm vi quản lý.
Liên quan vấn đề này, ngày 24/12/2025, chủ trì cuộc họp nghe báo cáo về việc phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho năm 2025-2026, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà nhấn mạnh, đây là lần đầu tiên Việt Nam thực hiện phân bổ hạn ngạch phát thải. Dù mang tính chất thí điểm để làm quen với việc kiểm soát phát thải, nhưng thực hiện phải nghiêm túc, quy định pháp lý rõ ràng, tránh hình thức.
Phó Thủ tướng yêu cầu trong quá trình thí điểm phải tính toán cụ thể hạn ngạch cho từng lĩnh vực (xi măng, thép, điện...), xác định rõ quy mô doanh nghiệp đưa vào thí điểm, để rút kinh nghiệm và chuẩn bị cho việc triển khai trên 100% các đối tượng phát thải sau này.
Việc thí điểm không chỉ dừng lại ở con số hạn ngạch mà là quá trình hoàn thiện đồng bộ từ phương pháp đo đạc, kiểm đếm, thống kê, báo cáo, thẩm định đến các vấn đề pháp lý và kỹ thuật. Các phương pháp này phải dựa trên cơ sở khoa học chắc chắn, phù hợp với chuẩn mực quốc tế để đảm bảo số liệu được quốc tế thừa nhận. Điều này gắn liền với trách nhiệm và cam kết của Việt Nam trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC).
Phó Thủ tướng yêu cầu việc phân bổ phải đảm bảo tính khoa học, khách quan, minh bạch và công bằng. Các doanh nghiệp tham gia thí điểm phải tự tính toán, thuê chuyên gia đánh giá và có đơn vị độc lập đo đạc, chứng nhận số liệu báo cáo.
Về lộ trình thực hiện, Phó Thủ tướng chỉ đạo giai đoạn từ nay đến năm 2027 sẽ tập trung thí điểm để hoàn thiện đồng bộ cơ chế, chính sách. Từ năm 2028, việc quản lý hạn ngạch phát thải sẽ được triển khai chính thức và bắt buộc trên phạm vi toàn quốc đối với tất cả các lĩnh vực, doanh nghiệp.
Trước đó, tháng 6/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 119/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn, trong đó sửa đổi Điều 12 về tổ chức phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho cơ sở.
Hạn ngạch phát thải khí nhà kính được xác định trên cơ sở mức phát thải khí nhà kính trên đơn vị sản phẩm; mục tiêu tăng trưởng của lĩnh vực; mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính của lĩnh vực, cơ sở theo kế hoạch sản xuất, kinh doanh; tiềm năng giảm phát thải của cơ sở; năng lực kỹ thuật, công nghệ và tài chính của cơ sở trong thực hiện giảm phát thải khí nhà kính.
Cụ thể, trong giai đoạn 2025- 2026, cơ sở được phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính là các nhà máy nhiệt điện, cơ sở sản xuất sắt thép, cơ sở sản xuất xi măng thuộc danh mục cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính được Thủ tướng Chính phủ ban hành.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng thí điểm đề xuất lượng hạn ngạch phân bổ cho năm 2025 và năm 2026 cho từng nhà máy nhiệt điện, cơ sở sản xuất sắt thép, cơ sở sản xuất xi măng nêu trên, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính theo giai đoạn và hằng năm. Căn cứ tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phân bổ hạn ngạch cho các cơ sở.
Trong giai đoạn 2027- 2028 và giai đoạn 2029- 2030, các bộ quản lý lĩnh vực đề xuất danh mục cơ sở được phân bổ hạn ngạch căn cứ danh mục cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính được Thủ tướng Chính phủ ban hành và lượng hạn ngạch phân bổ hàng năm cho từng cơ sở, gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường trước ngày 30/6/2027 cho giai đoạn 2027- 2028; trước ngày 30/6/2029 cho giai đoạn 2029- 2030.
Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng cập nhật danh mục cơ sở được phân bổ hạn ngạch và lượng hạn ngạch phân bổ hàng năm cho từng nhà máy nhiệt điện, cơ sở sản xuất sắt thép, cơ sở sản xuất xi măng, gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường trước ngày 30/6/2027 cho giai đoạn 2027- 2028; trước ngày 30/6/2029 cho giai đoạn 2029- 2030.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan rà soát, đánh giá, tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính theo giai đoạn 2027- 2028, giai đoạn 2029- 2030 và hằng năm. Căn cứ tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phân bổ hạn ngạch cho các cơ sở trước ngày 31/10/2027 cho giai đoạn 2027- 2028 và trước ngày 31/10/2029 cho giai đoạn 2029- 2030.
Theo Nghị định 119, cơ sở được phân bổ hạn ngạch được phép trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon trên Sàn giao dịch carbon theo lộ trình quy định.



Các cơ chế quốc tế như cơ chế toàn cầu về bù đắp và giảm thiểu carbon trong lĩnh vực hàng không quốc tế (CORSIA) của ICAO, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh Châu Âu cùng các yêu cầu về phát thải trong chuỗi cung ứng đang tạo ra áp lực ngày càng lớn đối với các quốc gia xuất khẩu, trong đó có Việt Nam...
Brussels đang tiến hành cấm sử dụng nguồn tài trợ của Liên minh châu Âu (EU) cho các dự án năng lượng sạch có sử dụng biến tần (inverter) cho điện mặt trời và hệ thống lưu trữ pin đến từ các “quốc gia có rủi ro cao”, mà chủ yếu là Trung Quốc. Theo đó, các nhà phát triển dự án sẽ phải chuyển sang sử dụng các giải pháp thay thế từ châu Âu, nhưng điều này có thể khiến hóa đơn năng lượng và chi phí sản xuất tại châu Âu tăng lên.
Khi nhu cầu điện tăng mạnh dưới tác động của AI, trung tâm dữ liệu và xu hướng điện khí hóa, việc bảo đảm độ tin cậy của hệ thống thông qua các giải pháp đo lường, kiểm định và giám sát kỹ thuật đang trở thành yếu tố then chốt của quá trình chuyển dịch năng lượng...
Việt Nam cùng đại diện các quốc gia thành viên Thỏa thuận Paris đang họp tại Đức để thảo luận nhiều vấn đề về thực hiện mục tiêu khí hậu toàn cầu...
Từ nguồn gỗ rừng trồng tại Gia Lai, viên nén đen đang trở thành sản phẩm giá trị gia tăng cao, góp phần thúc đẩy chuyển đổi xanh và nâng tầm ngành lâm sản địa phương...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.