Theo các số liệu thống kê sơ bộ, mạng lưới cộng đồng kinh doanh trên địa bàn cả nước hiện ghi nhận khoảng trên 700 Hiệp hội doanh nghiệp, Hiệp hội doanh nhân có quy mô và địa bàn hoạt động từ cấp tỉnh trở lên. Đáng chú ý, 100% địa phương đã thành lập được Hiệp hội doanh nghiệp cấp tỉnh.
Tại diễn đàn “Hội nghị Hiệp hội doanh nghiệp toàn quốc: Tăng cường, phát huy sức mạnh của các Hiệp hội doanh nghiệp đồng hành cùng Đảng và Nhà nước trong kỷ nguyên mới” diễn ra vào ngày 25/5/2026, ông Hoàng Văn Anh, Trưởng ban Công tác Hội viên thuộc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho biết theo các nghiên cứu độc lập của VCCI, năng lực hoạt động của các Hiệp hội doanh nghiệp thời gian qua đã có những sự chuyển biến khá tích cực.
Minh chứng là ngày càng có nhiều doanh nghiệp chủ động tham gia vào các Hiệp hội doanh nghiệp. Các tổ chức này cũng đáp ứng tương đối tốt nhu cầu thực tế của hội viên thông qua việc tổ chức các chương trình đào tạo, hội thảo chuyên đề. Song song đó, năng lực lãnh đạo và quản trị của các Hiệp hội doanh nghiệp cũng được cộng đồng kinh doanh đánh giá là đáp ứng tốt yêu cầu đặt ra.
Tuy nhiên, bức tranh toàn cảnh về năng lực hoạt động của các Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều khoảng trống bất cập. Một trong những chức năng cốt lõi nhất của Hiệp hội là đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp, tham gia vào các hoạt động vận động chính sách và đối thoại giữa chính quyền với doanh nghiệp dù đã có cải thiện nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế. Trong đó, năng lực tham gia góp ý và đề xuất xây dựng chính sách pháp luật bị các doanh nghiệp đánh giá là khâu yếu nhất.
Phân tích cụ thể hơn về thực trạng này, GS.TS Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Thành phố Hà Nội, chỉ rõ: "Năng lực tổng hợp dữ liệu từ các hội viên hiện còn rất yếu. Nhiều hiệp hội vẫn hoạt động theo lối mòn khi chủ yếu tiếp nhận phản ánh theo kiểu vụ việc đơn lẻ, qua điện thoại hoặc bằng văn bản hành chính rời rạc. Họ chưa xây dựng được hệ thống khảo sát định kỳ, thiếu một cơ sở dữ liệu hội viên đủ sức cập nhật, và đặc biệt là chưa lượng hóa được cụ thể mức độ tác động của các chính sách đến chi phí, doanh thu, việc làm, đơn hàng, dòng tiền cũng như năng lực cạnh tranh cốt lõi của doanh nghiệp".
Đặc biệt, năng lực phân tích chính sách giữa các Hiệp hội, Hội vẫn rơi vào tình trạng không đồng đều. Có những hiệp hội phản ánh rất trúng, rất đúng vấn đề thời sự của doanh nghiệp, nhưng các kiến nghị đưa ra lại quá chung chung, thiếu căn cứ pháp lý vững chắc, thiếu số liệu chứng minh, thiếu sự đối sánh quốc tế và thiếu cả các phương án sửa đổi cụ thể.
Hơn thế nữa, nguồn lực tự thân của nhiều hiệp hội còn rất mỏng. Không ít tổ chức đang rơi vào tình trạng thiếu bộ máy nhân sự chuyên trách, thiếu đội ngũ chuyên gia pháp lý và chuyên gia kinh tế ngành, thiếu kinh phí dành cho các nghiên cứu độc lập, đồng thời thiếu hụt cả nền tảng công nghệ hiện đại để quản trị hội viên cũng như thu thập dữ liệu.
Sự phối hợp giữa các hiệp hội với nhau cũng còn rời rạc, phân tán, trong khi phần lớn các vấn đề vướng mắc của doanh nghiệp hiện nay lại mang tính liên ngành, liên địa phương. Ngoài ra, một rào cản lớn khác ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động là địa vị chính thức của Hiệp hội doanh nghiệp hiện nay vẫn chưa được định vị rõ ràng và chưa thực sự đầy đủ.
Bước vào giai đoạn phát triển mới, nhiều chuyên gia và đại biểu đồng tình, cho rằng các hiệp hội doanh nghiệp cần phải chuyển mình để trở thành nền tảng vững chắc hỗ trợ doanh nghiệp phát triển năng lực cạnh tranh trong dài hạn. Hiệp hội phải là "bệ đỡ" giúp doanh nghiệp kịp thời cập nhật chính sách; tổ chức đào tạo sâu rộng về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI), tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị), kết nối thị trường và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Đặc biệt, các hiệp hội cần kiến tạo nên một môi trường sinh hoạt thực chất hơn cho các hội viên thông qua việc xây dựng các nền tảng kết nối đầu tư, chia sẻ dữ liệu dùng chung, đào tạo đội ngũ doanh nhân thế hệ kế cận và hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận công nghệ hiện đại với chi phí hợp lý hơn.
Từ góc độ thực tiễn, bà Nguyễn Thị Nga, Quyền Chủ tịch Hội Doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, kiến nghị cần chủ động xây dựng mô hình liên kết các hiệp hội theo mô hình “Keidanren Việt Nam” tương tự như mô hình thành công của Nhật Bản. Mô hình này sẽ đóng vai trò là chiếc cầu nối quan trọng giữa Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp, giúp hỗ trợ và đưa tiếng nói, nguyện vọng của doanh nghiệp đến gần hơn, trực diện hơn với các cơ quan hoạch định chính sách.
Đồng thời, cần hình thành một Trung tâm Tư duy kinh tế mới, nhằm thiết lập nền tảng liên kết chặt chẽ giữa các hiệp hội, các tập đoàn kinh tế đầu tàu cùng các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trên phạm vi toàn quốc.
"Sự liên kết giữa các hiệp hội hiện nay vẫn chưa thực sự chặt chẽ. Nếu chúng ta có được một trung tâm kết nối để quy tụ trí tuệ và sức mạnh chung, chắc chắn sẽ tạo ra sức ảnh hưởng lớn hơn, giúp doanh nghiệp có thể đóng góp nhiều giá trị hơn cho đất nước", bà Nga nhấn mạnh.
Việc hoàn thiện hành lang pháp lý và khẳng định vị thế của các hiệp hội doanh nghiệp là yêu cầu cấp bách. Vì vậy, bà Nga kiến nghị Nhà nước cần nhanh chóng thể chế hóa khung pháp lý để các hiệp hội có cơ hội tham gia sâu hơn, thực chất hơn vào quá trình phản biện, tư vấn kinh tế cũng như đề xuất chính sách vĩ mô.
Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý cũng cần tạo ra cơ chế đặt hàng nhiệm vụ công cho những hiệp hội doanh nghiệp có đủ năng lực trong các lĩnh vực then chốt như: xúc tiến thương mại quốc tế, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp, tư vấn chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Việc thiết lập một cơ chế đối thoại quốc gia trên nền tảng số giữa Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng hiệp hội doanh nghiệp cũng là giải pháp đột phá để tháo gỡ các điểm nghẽn, cập nhật chính sách và nắm bắt nhanh nhạy thực tiễn kinh doanh mới.
Bất chấp bức tranh ảm đạm của thị trường dệt may toàn cầu với những con số sụt giảm kỷ lục từ các cường quốc nhập khẩu, 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu hợp nhất toàn Tập đoàn dệt may Việt Nam tăng 6,5% so cùng kỳ, hoàn thành 46% kế hoạch năm; lợi nhuận hợp nhất tăng 14,4% so cùng kỳ, hoàn thành 55% kế hoạch năm...
Khi lợi thế nhân công giá rẻ dần mất đi, Việt Nam cần chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn và sản xuất thông minh. Các chuyên gia Đức khẳng định: Thay đổi tư duy lãnh đạo và nâng chất nguồn nhân lực là "chìa khóa" để Việt Nam bứt phá trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Trong giai đoạn 2023 - 2025, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 23–24% mỗi năm.Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn, ngành rau quả cần quyết liệt tháo gỡ hai "điểm nghẽn" là sản xuất nhỏ lẻ thiếu chuẩn hóa và tỷ lệ chế biến sâu còn thấp so với tiềm năng...
Từ khâu chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển đến tiêu thụ, thịt gia cầm lưu thông trên toàn địa bàn TP.Hồ Chí Minh sẽ từng bước được nhận diện và truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ số. Mục tiêu nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu truy xuất minh bạch, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm và kiểm soát chất lượng sản phẩm...
Trong bối cảnh nguồn cung ứng và hạ tầng truyền tải phải vận hành chạm ngưỡng giới hạn, tiết kiệm điện không còn là khẩu hiệu mang tính phong trào hay giải pháp ứng phó tạm thời, mà đã trở thành một yêu cầu cấp bách, một "nguồn năng lượng" đặc biệt cần được khai thác một cách thường xuyên và đồng bộ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.