Trình bày Tờ trình dự án Luật Thủ đô (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết việc sửa đổi luật nhằm thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng, đồng thời tháo gỡ những hạn chế, điểm nghẽn trong quá trình phát triển của Thủ đô thời gian qua.
Dự án Luật gồm 9 chương, 36 điều, giảm 18 điều so với luật hiện hành, tập trung hoàn thiện thể chế đặc thù, ổn định, có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với vai trò, vị trí của Thủ đô. Dự thảo đẩy mạnh phân quyền toàn diện, tối đa, với 192 thẩm quyền được giao cho chính quyền thành phố Hà Nội, nhằm tăng tính chủ động, sáng tạo và tự chịu trách nhiệm.
Cùng với đó, dự thảo bổ sung nhiều chính sách mới, lược bỏ các quy định mang tính định hướng, đơn giản hóa thủ tục hành chính, đồng thời thiết kế cơ chế đặc thù về nguồn lực tài chính và nhân lực để bảo đảm tổ chức thực hiện.
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật Thủ đô (sửa đổi), nêu rõ Cơ quan thẩm tra dự án luật tán thành sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật Thủ đô năm 2024 nhằm xây dựng một thể chế đặc biệt, vượt trội, tạo lợi thế cạnh tranh và thúc đẩy Hà Nội phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới. Hồ sơ dự án Luật đã được chuẩn bị công phu, đầy đủ tài liệu, đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét, thông qua theo trình tự, thủ tục rút gọn.
Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cơ bản thống nhất với định hướng phân quyền cho Hà Nội trên ba nhóm nội dung: hoàn thiện thể chế đặc thù và tăng quyền chủ động cho chính quyền Thủ đô; tổ chức không gian phát triển hiện đại, bền vững; huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và liên kết vùng.
Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị tiếp tục rà soát, phân định rõ thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật; làm rõ điều kiện và cơ chế kiểm soát đối với các chính sách về đô thị, tài chính, đầu tư, tài nguyên; bổ sung cơ chế liên kết vùng Thủ đô; đồng thời quy định cụ thể trách nhiệm, thời hạn báo cáo, giải trình trong công tác giám sát, kiểm tra.
Theo Tờ trình của Chính phủ, dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù trong phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế được xây dựng nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng và khắc phục những bất cập trong thực tiễn, trong bối cảnh số vụ tranh chấp mới tiếp tục gia tăng với giá trị ngày càng lớn.
Dự thảo Nghị quyết gồm 5 chương, 20 điều, quy định cơ chế phối hợp xuyên suốt từ phòng ngừa đến giải quyết tranh chấp. Cơ chế phối hợp được mở rộng không chỉ trong nội bộ các cơ quan thuộc Chính phủ mà còn bao gồm Tòa án, Viện kiểm sát, Kiểm toán Nhà nước và các cơ quan liên quan.
Về chính sách đặc thù, dự thảo đề xuất cơ chế bảo đảm nguồn lực, trong đó quy định mức phụ cấp tăng thêm hằng tháng đối với cán bộ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ. Công chức tại Cơ quan đại diện pháp lý có thể được hưởng phụ cấp tăng thêm tối đa 300% mức lương hiện hưởng; cán bộ tại các bộ, ngành, địa phương hưởng mức 100%.
Trường hợp không có vị trí việc làm chuyên trách nhưng được giao tham gia Tổ công tác liên ngành cũng được hưởng phụ cấp tương ứng trong thời gian trực tiếp tham gia xử lý vụ việc.
Dự thảo đồng thời bổ sung cơ chế bảo vệ cán bộ, theo hướng miễn hoặc giảm trách nhiệm đối với người đứng đầu và cán bộ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ nếu đã tuân thủ đầy đủ quy định nhưng vẫn phát sinh thiệt hại.
Báo cáo thẩm tra về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi cho biết Ủy ban này cơ bản tán thành với sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm giải quyết những khó khăn hiện nay.
Về phân định cơ quan chủ trì, đa số ý kiến thống nhất giao cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài làm Cơ quan chủ trì trong trường hợp cơ quan bị kiện hoặc đề xuất biện pháp bị kiện là cơ quan tiến hành tố tụng, nhằm bảo đảm nguyên tắc độc lập và hạn chế xung đột vai trò.
Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị làm rõ cơ chế phối hợp giữa Cơ quan chủ trì và Cơ quan đại diện pháp lý, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan phối hợp, kèm theo chế tài cụ thể đối với trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ phối hợp.
Đối với chính sách đặc thù, Ủy ban đề nghị đánh giá kỹ khả năng cân đối ngân sách, bảo đảm tương quan với các lĩnh vực đặc thù khác và giải trình rõ sự chênh lệch mức phụ cấp giữa các nhóm đối tượng.



Sáng 13/6, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng làm việc với TP. Hồ Chí Minh về tình hình phát triển kinh tế - xã hội 05 tháng đầu năm và các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, giải ngân vốn đầu tư công, phát triển nhà ở xã hội, tình hình triển khai xây dựng Dự án Luật Đô thị đặc biệt…
Sau gần 4 thập kỷ mở cửa và đổi mới, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một trụ cột quan trọng, đóng góp mạnh mẽ vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Tuy nhiên, trước bối cảnh toàn cầu đang thay đổi sâu sắc, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết mới nhằm nâng tầm chất lượng dòng vốn đầu tư nước ngoài…
UOB giữ dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2026 ở mức 7%, triển vọng tăng trưởng tiếp tục cho thấy sức chống chịu trước áp lực gia tăng và những biến động bên ngoài. Dù vậy, vẫn cần lưu ý đến lạm phát, tỷ giá và biến động giá năng lượng toàn cầu vẫn có thể tạo áp lực trong thời gian tới...
Lần đầu tiên, đối ngoại được xác định là nhiệm vụ ‘"trọng yếu, thường xuyên" bên cạnh quốc phòng và an ninh. Phát biểu quán triệt Nghị quyết 06-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong kỷ nguyên mới.
Ngày 11/6, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng.
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.