
Tuy nhiên, văn bản pháp lý cao nhất điều chỉnh hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là Luật Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) hiện hành vẫn chưa có quy định cụ thể về vấn đề này. Do vậy, việc sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm tiền gửi là yêu cầu cấp thiết nhằm tạo cơ sở pháp lý triển khai thực tiễn chức năng cho vay đặc biệt của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
NHỮNG RÀO CẢN TRONG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ
Trước thời điểm Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2024 có hiệu lực, việc cho vay đặc biệt của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam căn cứ theo Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi năm 2017) và các Thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Theo đó, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có thể cho vay trong ba trường hợp: Hỗ trợ thanh khoản; theo quyết định của Ngân hàng Nhà nước; hoặc theo phương án phục hồi đã được phê duyệt.
Trong khoảng thời gian này, dù đã nhận được một số hồ sơ đề nghị vay đặc biệt từ các quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nhưng Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam vẫn chưa phát sinh cho vay đặc biệt đối với bất kỳ trường hợp nào.
Qua phân tích các trường hợp đề nghị vay, có thể rút ra một số nguyên nhân chính sau: Các đơn vị đề nghị cho vay hầu hết ở trong tình trạng rất yếu kém, không đủ khả năng trả nợ, nợ xấu lớn, và thiếu tài sản bảo đảm đáp ứng yêu cầu; Chưa phát sinh trường hợp cho vay đặc biệt theo quyết định của Ngân hàng Nhà nước; Phương án phục hồi do quỹ tín dụng nhân dân xây dựng thiếu tính khả thi hoặc không đáp ứng được các điều kiện về cho vay đặc biệt.
Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, phạm vi cho vay đặc biệt được mở rộng, bao gồm: (i) Cho vay đặc biệt ngân hàng thương mại (NHTM), ngân hàng hợp tác xã (NHHTX), tổ chức tài chính vi mô (TCTCVM) để hỗ trợ thực hiện phương án phục hồi; (ii) Cho vay đặc biệt NHTM được chuyển giao bắt buộc để thực hiện phương án chuyển giao bắt buộc; (iii) Cho vay đặc biệt đối với NHTM, NHHTX, QTDND, TCTCVM khi bị rút tiền hàng loạt.
Tuy nhiên, quá trình triển khai trong thực tế vẫn gặp không ít trở ngại, như: Luật Bảo hiểm tiền gửi chưa được sửa đổi, bổ sung các nội dung quy định về cho vay đặc biệt; Đối tượng vay đặc biệt thường là các tổ chức tín dụng yếu kém, tiềm ẩn rủi ro không thu hồi được vốn, trong khi Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 chưa có quy định về nguyên tắc xử lý rủi ro cho các khoản vay đặc biệt không thu hồi được; Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam không được tham gia quá trình đánh giá tính khả thi của phương án phục hồi các NHTM, NHHTX, TCTCVM nên gặp khó trong việc thẩm định hồ sơ vay; Năng lực tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam còn cần tiếp tục cải thiện.
Hiện nay, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam chưa có cơ chế bán trái phiếu Chính phủ để cho vay đặc biệt khi Quỹ dự phòng nghiệp vụ không đủ, ảnh hưởng đến khả năng cân đối vốn khi triển khai đồng thời các nhiệm vụ lớn như chi trả bảo hiểm và hỗ trợ xử lý tổ chức tín dụng có quy mô lớn như ngân hàng.
HOÀN THIỆN PHÁP LÝ VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC TRIỂN KHAI
Hiện Ngân hàng Nhà nước đang chủ trì xây dựng Dự thảo Luật Bảo hiểm tiền gửi (sửa đổi), trình Chính phủ báo cáo Quốc hội. Để Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có thể triển khai hiệu quả nhiệm vụ cho vay đặc biệt theo quy định mới, cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm sau:
Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý cho nghiệp vụ cho vay đặc biệt
Một số nhiệm vụ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, trong đó có nhiệm vụ cho vay đặc biệt, đã được bổ sung trong Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 nhưng chưa được quy định tương ứng trong Luật Bảo hiểm tiền gửi hiện hành. Việc sửa đổi Luật Bảo hiểm tiền gửi là cần thiết để bảo đảm tính đồng bộ và khả thi trong thực hiện nhiệm vụ.
Các nội dung cần được quy định rõ ràng bao gồm: các trường hợp được cho vay đặc biệt; thẩm quyền quyết định cho vay; điều kiện cho vay; yêu cầu về tài sản bảo đảm; cơ chế xử lý khoản vay không thu hồi được,… đặc biệt trong bối cảnh các tổ chức vay vốn thường là tổ chức tín dụng yếu kém, có nguy cơ mất khả năng thanh toán hoặc không có tài sản đảm bảo.
Ngoài ra, cần xem xét bổ sung quy định cho phép Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam hỗ trợ các tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi được KSĐB mà không còn khả năng chi trả cho người gửi tiền, nhằm bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và tăng cường vai trò trong quá trình tái cơ cấu tổ chức tín dụng yếu kém.
Thứ hai, nâng cao và phát triển các nguồn lực
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cần tiếp tục đề xuất sửa đổi quy định pháp luật về đầu tư nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi theo hướng đa dạng hóa danh mục đầu tư trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn để tăng cường năng lực tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
Về nguồn nhân lực, cần tập trung đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ nghiệp vụ đặc biệt là kinh nghiệm thực tiễn về cho vay đặc biệt. Bên cạnh việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực sẵn có, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cũng cần xây dựng chính sách thu hút nguồn nhân lực có kinh nghiệm cho vay đặc biệt về làm việc cho Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
Thứ ba, tăng cường chia sẻ thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Để Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có thể thực hiện tốt nhiệm vụ cho vay đặc biệt thì việc thu thập thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác là hết sức cần thiết. Các thông tin về tình hình tài chính, về phương án phục hồi, về phương án chuyển giao bắt buộc, tổ chức tín dụng nhận chuyển giao bắt buộc đối với phương án chuyển giao bắt buộc, các biện pháp hỗ trợ thực hiện phương án cơ cấu lại,… cần được Ngân hàng Nhà nước chia sẻ, cung cấp để Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có cơ sở, căn cứ đánh giá, ra quyết định trong quá trình cho vay đặc biệt.
Thứ tư, tham khảo kinh nghiệm quốc tế và điều chỉnh phù hợp với thực tiễn Việt Nam
Trên thế giới, một số tổ chức Bảo hiểm tiền gửi vẫn được trao quyền cho vay đặc biệt, nhưng thực tế họ có xu hướng ưu tiên các biện pháp hỗ trợ tài chính khác như P&A, chia sẻ tổn thất... Do đó, Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, đánh giá điều kiện thực tiễn trong nước để đề xuất bổ sung biện pháp hỗ trợ tài chính hợp hơn trong quá trình xử lý sự cố, khủng hoảng trong hoạt động của tổ chức tín dụng, tránh nguy cơ rủi ro lan truyền hệ thống, góp phần duy trì ổn định và an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng.



Dù hồi phục trong hai phiên ngày thứ Năm và thứ Sáu, giá vàng vẫn giảm trong tuần này...
UOB giữ dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2026 ở mức 7%, triển vọng tăng trưởng tiếp tục cho thấy sức chống chịu trước áp lực gia tăng và những biến động bên ngoài. Dù vậy, vẫn cần lưu ý đến lạm phát, tỷ giá và biến động giá năng lượng toàn cầu vẫn có thể tạo áp lực trong thời gian tới...
Trong phiên sáng 12/6, dù các doanh nghiệp tăng giá vàng mua vào mạnh hơn giá bán ra khiến chênh lệch giá mua, bán vàng miếng và vàng nhẫn thu hẹp từ 5 triệu đồng trong phiên hôm qua (11/6) xuống 3,5 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, vẫn cao so với mức thông thường từ 1,5 đến 2 triệu đồng/lượng...
Dưới đây là triển vọng chính sách tiền tệ của 10 ngân hàng trung ương lớn tại các thị trường phát triển, được gọi là nhóm G10...
Lập "hattrick" công nghệ tại The Asian Banker 2026, TPBank khẳng định chiến lược đúng đắn khi đưa trí tuệ nhân tạo (AI) và số hóa vào tối ưu hóa năng lực vận hành, nâng tầm trải nghiệm khách hàng.
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.