Việc triển khai hiệu quả các chính sách và công cụ quản lý môi trường là yêu cầu cấp thiết nhằm chuyển đổi mô hình phát triển từ kinh tế tuyến tính sang kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và phát thải thấp.
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường được xây dựng với kỳ vọng không chỉ khắc phục những vướng mắc hiện hành mà còn đánh dấu một bước chuyển quan trọng về tư duy quản trị môi trường, tạo lập nền tảng pháp lý cho mô hình phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Việt Nam đang đứng trước những yêu cầu phát triển mới, trong đó môi trường không chỉ là yếu tố cần bảo vệ, mà trở thành điều kiện tiên quyết để duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững.
Những thay đổi của nền kinh tế toàn cầu đang đặt ra áp lực lớn đối với hệ thống pháp luật môi trường. Các tiêu chuẩn môi trường ngày càng trở thành điều kiện bắt buộc trong thương mại quốc tế, đặc biệt là các cơ chế điều chỉnh carbon xuyên biên giới, truy xuất nguồn gốc sản phẩm xanh và yêu cầu minh bạch dữ liệu môi trường.
Trong bối cảnh đó, nếu hệ thống pháp luật môi trường không được cập nhật kịp thời, doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp khó khăn trong tiếp cận thị trường quốc tế, đồng thời nền kinh tế sẽ đối mặt với rủi ro về môi trường và phát triển thiếu bền vững.
Thực tiễn quốc tế cho thấy nếu không chú trọng bảo vệ môi trường, chi phí môi trường sẽ vượt xa lợi ích kinh tế. Các cảnh báo cho thấy nếu GDP tăng nhanh mà không kiểm soát môi trường, mức độ ô nhiễm có thể tăng gấp nhiều lần, gây thiệt hại kinh tế và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng. Điều này đặt ra thách thức lớn trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Việc triển khai hiệu quả các chính sách và công cụ quản lý môi trường là yêu cầu cấp thiết nhằm chuyển đổi mô hình phát triển từ kinh tế tuyến tính sang kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và phát thải thấp.
Từ những yêu cầu thực tiễn trên cho thấy việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 là cần thiết nhằm khắc phục các bất cập phát sinh trong quá trình thi hành, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với các luật có liên quan.
Điều này cũng góp phần hoàn thiện các công cụ quản lý môi trường theo hướng hiện đại, minh bạch và phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết trọng tâm của việc sửa luật nhằm tiếp tục cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, đặc biệt là các thủ tục về ĐTM, giấy phép môi trường, bảo đảm kiểm soát thực chất, hiệu quả các dự án, cơ sở có nguy cơ cao tác động xấu đến môi trường, đơn giản hóa thủ tục, thúc đẩy các dự án đầu tư phát triển kinh tế xã hội.
Việc sửa luật cũng tạo nền tảng pháp lý đủ mạnh, hiệu quả để chuyển đổi số trong quản lý môi trường, tạo động lực thúc đẩy mạnh mẽ phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam. Cùng với đó hoàn thiện các chế định về quản lý chất lượng môi trường để phòng ngừa từ sớm, từ xa các nguồn gây ô nhiễm, ảnh hưởng tới chất lượng môi trường, đi đôi với tăng cường các biện pháp dự báo, cảnh báo, công khai thông tin về chất lượng môi trường.
Song song với đó tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc do quy định chưa được xử lý, không để cản trở sự phát triển, huy động và khơi thông mọi nguồn lực, phục vụ hiệu quả cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi.
Khẳng định việc sửa đổi bổ sung luật là một yêu cầu tất yếu, tại hội thảo góp ý dự thảo luật mới đây, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành cho biết dự thảo luật được xây dựng trên một tư duy lập pháp mới: Luật chỉ quy định khung và nguyên tắc để bảo đảm tính linh hoạt, các vấn đề kỹ thuật sẽ giao cho Chính phủ và các cấp có thẩm quyền quy định.
Theo đó, dự thảo luật sửa đổi bổ sung tập trung vào 5 định hướng chiến lược. Thứ nhất, cải cách thực chất thủ tục hành chính và đẩy mạnh phân cấp: Đơn giản hóa, minh bạch hóa các thủ tục như ĐTM và giấy phép môi trường để giảm thiểu chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. “Tuy nhiên, việc nới lỏng thủ tục sẽ đi kèm với cơ chế hậu kiểm, giám sát chặt chẽ và phân định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, bao gồm 3 yếu tố cốt lõi là công cụ, lực lượng và quy trình”, Thứ trưởng Lê Công Thành nhấn mạnh.
Thứ hai, đổi mới tư duy về chất thải: Chuyển từ việc “xử lý chất thải” sang coi chất thải là “tài nguyên”. "Chúng ta sẽ tạo hành lang pháp lý để phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp môi trường và thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn," ông Thành nói.
Thứ ba, tiên phong chuyển đổi số: Xây dựng hệ sinh thái dữ liệu môi trường đồng bộ, công khai, minh bạch; phục vụ đắc lực cho cả cơ quan quản lý, người dân và cộng đồng doanh nghiệp.
Thứ tư, chuyển từ “bị động khắc phục” sang “chủ động phòng ngừa”: Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm; kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải ngay từ gốc trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa đang diễn ra rất nhanh.
Thứ năm, vận hành hiệu quả các công cụ kinh tế: Hoàn thiện cơ chế thị trường, đặc biệt là thị trường carbon, biến bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu thành động lực kinh tế để doanh nghiệp chủ động đổi mới công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh.
Thông tin cụ thể về một số đề xuất sửa đổi bổ sung, Cục Môi trường cho biết dự thảo luật tập trung các nhóm nội dung chính: đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền những vẫn đảm bảo kiểm soát chặt chẽ với quan điểm không hy sinh môi trường để đánh đổi các mục tiêu lợi ích kinh tế trước mắt. Cùng với đó rà soát, thực hiện chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong quản lý chất thải và thúc đẩy hoạt động tái chế, tái sử dụng chất thải, phát triển kinh tế tuần hoàn; quản lý chất lượng môi trường...
Về thẩm định báo cáo ĐTM, dự thảo luật đã tập trung sửa đổi, cải cách mạnh mẽ công cụ ĐTM để cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nhưng vẫn kiểm soát có trọng tâm, trọng điểm các vấn đề môi trường ngay trong giai đoạn lập dự án đầu tư. Theo đó, dự thảo luật cắt giảm đối tượng phải ĐTM, chuyển sang thực hiện Đăng ký môi trường; đơn giản hóa quy trình thẩm định…
Dự thảo luật đã đề xuất phân loại dự án theo 3 nhóm (thay vì 4 nhóm như luật hiện hành). Tiếp tục lược bỏ một số tiêu chí về yếu tố nhạy cảm môi trường trong phân loại dự án đầu tư như: khu dân cư tập trung; nguồn nước được dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt; yêu cầu di dân, tái định cư; không thực hiện ĐTM đối với dự án trong khu, cụm công nghiệp, các dự án không thuộc loại hình có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, dự án có quy mô, công suất nhỏ và không có yếu tố nhạy cảm về môi trường.
Theo Cục Môi trường, đối tượng ĐTM sẽ tập trung vào các loại hình có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao như: làm giàu, chế biến khoáng sản độc hại; sản xuất giấy, hóa chất vô cơ; thuộc da; dệt nhuộm; nhiệt điện than; sản xuất tinh bột sắn…; dự án có sử dụng đất tại các khu bảo tồn thiên nhiên… “Các đối tượng còn lại sẽ chỉ thực hiện thủ tục Đăng ký môi trường khoảng trên 90% tổng số dự án đầu tư”, ông Thịnh cho biết.
Quy trình thẩm định ĐTM cũng được đơn giản hóa. Dự thảo luật quy định 2 hình thức lập báo cáo và thẩm định, phê duyệt ĐTM theo mức nguy cơ tác động xấu đến môi trường của dự án.
Cụ thể, dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao (nhóm I) phải thẩm định, phê duyệt kết quả thẩm định. Dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường (nhóm II) chỉ phải thẩm định để ban hành thông báo, không thực hiện thủ tục phê duyệt kết quả thẩm định. Dự án không có nguy cơ tác động xấu đến môi trường (nhóm III) chỉ đăng ký môi trường hoặc cấp giấp phép môi trường trước khi triển khai thực hiện…
Dự thảo luật tiếp tục đề xuất đẩy mạnh hơn nữa việc phân quyền cho địa phương thực hiện thủ tục hành chính về môi trường. Ước tính số lượng ĐTM được phân quyền cho địa phương lên đến 90% so với luật hiện hành.
Ngoài tra, dự thảo luật đã bãi bỏ quy định vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải sau khi được cấp giấy phép môi trường để giảm chi phí và thời gian tuân thủ cho doanh nghiệp trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng 2 con số, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tăng cường kiểm tra, giám sát và áp dụng chế tài xử lý vi phạm.



Các cơ chế quốc tế như cơ chế toàn cầu về bù đắp và giảm thiểu carbon trong lĩnh vực hàng không quốc tế (CORSIA) của ICAO, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh Châu Âu cùng các yêu cầu về phát thải trong chuỗi cung ứng đang tạo ra áp lực ngày càng lớn đối với các quốc gia xuất khẩu, trong đó có Việt Nam...
Brussels đang tiến hành cấm sử dụng nguồn tài trợ của Liên minh châu Âu (EU) cho các dự án năng lượng sạch có sử dụng biến tần (inverter) cho điện mặt trời và hệ thống lưu trữ pin đến từ các “quốc gia có rủi ro cao”, mà chủ yếu là Trung Quốc. Theo đó, các nhà phát triển dự án sẽ phải chuyển sang sử dụng các giải pháp thay thế từ châu Âu, nhưng điều này có thể khiến hóa đơn năng lượng và chi phí sản xuất tại châu Âu tăng lên.
Khi nhu cầu điện tăng mạnh dưới tác động của AI, trung tâm dữ liệu và xu hướng điện khí hóa, việc bảo đảm độ tin cậy của hệ thống thông qua các giải pháp đo lường, kiểm định và giám sát kỹ thuật đang trở thành yếu tố then chốt của quá trình chuyển dịch năng lượng...
Việt Nam cùng đại diện các quốc gia thành viên Thỏa thuận Paris đang họp tại Đức để thảo luận nhiều vấn đề về thực hiện mục tiêu khí hậu toàn cầu...
Từ nguồn gỗ rừng trồng tại Gia Lai, viên nén đen đang trở thành sản phẩm giá trị gia tăng cao, góp phần thúc đẩy chuyển đổi xanh và nâng tầm ngành lâm sản địa phương...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.