Tại Công ty Than Khánh Hòa (VVMI), một trong những đơn vị khai thác than lâu đời và có vai trò quan trọng đối với ngành công nghiệp khai khoáng tại Thái Nguyên, từ thực địa mỏ đến các khu xử lý môi trường, những gì ghi nhận được cho thấy rõ nỗ lực của doanh nghiệp trong việc duy trì sản xuất, đồng thời thích ứng với các yêu cầu ngày càng khắt khe về an toàn, môi trường.
VVMI hiện là đơn vị trực thuộc Tổng Công ty Công nghiệp Mỏ Việt Bắc (TKV-CTCP), có trụ sở tại xã Sơn Cẩm, thành phố Thái Nguyên. Ông Ma Văn Thủy, Phó Giám đốc VVMI cho biết hiện công ty có hơn 700 lao động, phần lớn có trình độ quản lý và tay nghề kỹ thuật cao, được đầu tư nhiều thiết bị khai thác, vận tải và chế biến hiện đại. Nhiệm vụ chính của VVMI là khai thác, chế biến than cung cấp cho Nhà máy Nhiệt điện Cao Ngạn, các nhà máy xi măng trong Tổng Công ty Công nghiệp Mỏ Việt Bắc và các đơn vị trong ngành.
Trung bình mỗi năm, mỏ than Khánh Hòa bóc tách từ 4,5–5 triệu m3 đất đá, khai thác khoảng 400.000–500.000 tấn than nguyên khai. Mỏ than Khánh Hòa chỉ cách Nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn vài km, từ đây có băng chuyền tải than đến thẳng nhà máy nhiệt điện.
“Thực tế khai thác cho thấy, để thu được 1 tấn than, trung bình phải bóc khoảng 10 m3 đất đá phủ. Than tại mỏ chủ yếu là than cám, trong khi than cục chiếm tỷ lệ nhỏ, phù hợp với nhu cầu của các nhà máy nhiệt điện. Trước khi đưa vào lò đốt, than cám thường được nghiền lại, chất lượng được kiểm soát chặt chẽ để đáp ứng yêu cầu công nghệ của từng nhà máy”, ông Thủy chia sẻ.
Trong 55 năm kể từ năm 1970 đến nay, Công ty đã bốc xúc, vận chuyển 88,2 triệu m3 đất đá, khai thác trên 11,4 triệu tấn than nguyên khai và tiêu thụ hơn 10,5 triệu tấn than sạch. Riêng giai đoạn 2019–2024, công ty sản xuất và tiêu thụ 7 triệu tấn than sạch, đạt doanh thu 4.779 tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước 1.293 tỷ đồng. Những năm gần đây, doanh thu nộp ngân sách của mỏ đạt bình quân khoảng 250 tỷ đồng/năm.
Theo ông Thủy, nhu cầu năng lượng của Việt Nam trong trung và dài hạn vẫn tiếp tục tăng do đất nước đang trong quá trình công nghiệp hóa. Việc chuyển dịch nhiên liệu đối với nhiệt điện than sẽ được thực hiện theo lộ trình cụ thể do Nhà nước ban hành, không mang tính đột ngột.
Hiện nay, ngành than đang thực hiện theo Quy hoạch số 893/QĐ-TTg được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2023 về Quy hoạch tổng thể năng lượng quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Theo đó, Tập đoàn được giao nhiệm vụ sản xuất than phục vụ nhu cầu trong nước, đặc biệt là cho điện năng, trong giai đoạn chuyển tiếp.
Ông Thủy cho biết đối với khu vực Khánh Hòa, mỏ than được quy hoạch khai thác lộ thiên đến khoảng năm 2038, sau đó chuyển sang khai thác hầm lò, với tầm nhìn đến năm 2050. Riêng mỏ Núi Hồng, dự kiến kết thúc giấy phép khai thác lộ thiên vào năm 2025; nếu đủ điều kiện, sẽ tiếp tục nghiên cứu phương án khai thác hầm lò trong giai đoạn tiếp theo.
Một điểm nhấn đáng chú ý tại mỏ than Khánh Hòa là công tác hoàn nguyên và xử lý môi trường. Theo đề án cải tạo, phục hồi môi trường, các khu vực kết thúc khai thác lộ thiên sẽ được giữ lại để hình thành các hồ nước. Những hồ này vừa có chức năng điều hòa, vừa có thể nuôi trồng thủy sản, kết hợp trồng cây xanh xung quanh nhằm cải thiện cảnh quan và môi trường sinh thái.
Trong quá trình khai thác, việc bơm thoát nước là bắt buộc do khu vực moong luôn là điểm trũng thấp nhất. Nguy cơ ngập úng vào mùa mưa đã được tính toán trong thiết kế kỹ thuật. Hiện nay, hệ thống xử lý nước thải của mỏ mỗi năm tiếp nhận khoảng 3 triệu m3 nước thải; những năm mưa nhiều, lưu lượng có thể tăng lên trên 4 triệu m3/năm.
Tại khu xử lý nước thải, nước được đưa qua các bể điều hòa, bể lắng sơ cấp và bể xử lý trung gian. Ở công đoạn cuối, nước được bơm sang các bể châm hóa chất, chủ yếu là chất trợ lắng, nhằm loại bỏ chất rắn lơ lửng và bùn cặn. Sau khi xử lý đạt yêu cầu, nước được xả ra hệ thống suối tự nhiên phía sau khu vực mỏ.
Ông Thủy cho biết bùn thải sau lắng được thu gom, tập kết để ổn định trong vài tháng. Thành phần chủ yếu là đất đá mịn, sau khi khô có thể tiếp tục được xử lý hoặc nghiên cứu tận dụng theo hướng kinh tế tuần hoàn, nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp lý và môi trường.
Không chỉ riêng mỏ Khánh Hòa, bài toán an toàn và môi trường đang là yêu cầu chung đối với ngành khai khoáng tại Thái Nguyên - địa phương được coi là Trung tâm khai khoáng lớn của miền Bắc. Trong bối cảnh hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản, sử dụng hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp tiếp tục mở rộng, tỉnh xác định không đánh đổi tăng trưởng bằng rủi ro sinh thái.
Theo đó, Sở Công Thương Thái Nguyên đã chủ động ban hành và triển khai nhiều văn bản hướng dẫn, tập trung siết chặt quản lý các hạng mục có nguy cơ cao như kho vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ và hệ thống hồ chứa quặng đuôi. Đặc biệt, với việc kịp thời áp dụng Thông tư số 24/2025/TT-BCT và Thông tư số 31/2025/TT-BCT của Bộ Công Thương đã góp phần hình thành khung pháp lý đồng bộ, yêu cầu doanh nghiệp nâng cao tiêu chuẩn an toàn ngay từ khâu thiết kế và đầu tư.
Điểm nhấn trong quản lý khai khoáng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2025 là sự chuyển dịch từ tư duy “kiểm tra, xử lý” sang “hướng dẫn, phòng ngừa và đồng hành cùng doanh nghiệp”, thể hiện qua các hoạt động phối hợp liên ngành và xử lý phản ánh của người dân".
Ông Phạm Văn Thọ, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Thái Nguyên, khẳng định: bảo đảm an toàn môi trường trong khai thác, chế biến khoáng sản là mệnh lệnh xuyên suốt. Trên tinh thần đó, Sở tăng cường tập huấn, kiểm tra, giám sát, yêu cầu các doanh nghiệp hoàn thiện báo cáo đánh giá rủi ro, xây dựng kế hoạch ứng cứu khẩn cấp và chỉ đưa các hạng mục vào vận hành khi đã nghiệm thu đầy đủ về kỹ thuật và môi trường.
Một thách thức nổi lên là rủi ro thiên tai trong điều kiện biến đổi khí hậu, đặc biệt đối với hệ thống hồ chứa chất thải. Mưa lớn cực đoan đã làm gia tăng nguy cơ tràn bùn, sạt lở, vỡ bờ hồ, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và đời sống người dân.
Trước thực tế trên, Sở Công Thương đã tổ chức các đợt kiểm tra diện rộng, rà soát toàn bộ hệ thống hồ chứa thải, bãi quặng đuôi và kho vật liệu nổ công nghiệp; yêu cầu doanh nghiệp chủ động gia cố bờ bao, kiểm tra hệ thống thoát nước và kích hoạt phương án ứng phó thiên tai.
Cùng với đó, Sở Công Thương đã rà soát, yêu cầu chỉnh sửa báo cáo kiểm kê khí nhà kính của 42 đơn vị, góp phần chuẩn hóa dữ liệu phát thải, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư công nghệ xanh, sử dụng năng lượng hiệu quả và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, phù hợp với cam kết phát thải ròng bằng “0”.



Bất chấp bức tranh ảm đạm của thị trường dệt may toàn cầu với những con số sụt giảm kỷ lục từ các cường quốc nhập khẩu, 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu hợp nhất toàn Tập đoàn dệt may Việt Nam tăng 6,5% so cùng kỳ, hoàn thành 46% kế hoạch năm; lợi nhuận hợp nhất tăng 14,4% so cùng kỳ, hoàn thành 55% kế hoạch năm...
Khi lợi thế nhân công giá rẻ dần mất đi, Việt Nam cần chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn và sản xuất thông minh. Các chuyên gia Đức khẳng định: Thay đổi tư duy lãnh đạo và nâng chất nguồn nhân lực là "chìa khóa" để Việt Nam bứt phá trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Trong giai đoạn 2023 - 2025, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 23–24% mỗi năm.Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn, ngành rau quả cần quyết liệt tháo gỡ hai "điểm nghẽn" là sản xuất nhỏ lẻ thiếu chuẩn hóa và tỷ lệ chế biến sâu còn thấp so với tiềm năng...
Từ khâu chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển đến tiêu thụ, thịt gia cầm lưu thông trên toàn địa bàn TP.Hồ Chí Minh sẽ từng bước được nhận diện và truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ số. Mục tiêu nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu truy xuất minh bạch, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm và kiểm soát chất lượng sản phẩm...
Trong bối cảnh nguồn cung ứng và hạ tầng truyền tải phải vận hành chạm ngưỡng giới hạn, tiết kiệm điện không còn là khẩu hiệu mang tính phong trào hay giải pháp ứng phó tạm thời, mà đã trở thành một yêu cầu cấp bách, một "nguồn năng lượng" đặc biệt cần được khai thác một cách thường xuyên và đồng bộ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.