Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa, giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh đã triển khai các chương trình trọng điểm của Trung ương với tổng vốn trên 5.000 tỷ đồng.
Cùng với đó, ngân sách tỉnh Thanh Hóa phân bổ hơn 1.480 tỷ đồng để thực thi các nghị quyết về khuyến khích, hỗ trợ phát triển nông nghiệp, tập trung vào tích tụ, tập trung đất đai, ứng dụng công nghệ cao và phát triển chuỗi sản xuất hàng hóa.
Một trong những chính sách tiêu biểu là khuyến khích tích tụ, tập trung đất đai nhằm hình thành các vùng sản xuất quy mô lớn, công nghệ cao. Với hơn 38,8 tỷ đồng hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân nhận thuê, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chính sách đã góp phần chuyển đổi tư duy sản xuất từ nhỏ lẻ, manh mún sang sản xuất quy mô lớn, áp dụng quy trình phù hợp và gắn với thị trường.
Nhờ đó, nhiều vùng sản xuất tập trung có lợi thế được hình thành và phát triển như: vùng lúa năng suất, chất lượng, hiệu quả cao 75.000ha; vùng mía 15.000ha; vùng cây ăn quả tập trung 12.000ha; vùng sắn 13.500ha; vùng hoa, cây cảnh 350ha.
Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ sản xuất rau an toàn tập trung, chuyên canh; hỗ trợ phát triển sản phẩm OCOP; hỗ trợ xây dựng nông thôn mới đã góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thương hiệu và tăng cường liên kết trong chuỗi giá trị sản xuất - tiêu thụ.
Một trong những minh chứng rõ nét cho hiệu quả chính sách là kết quả của chương trình xây dựng nông thôn mới. Thành công này không chỉ đến từ nguồn lực ngân sách mà còn từ cách vận dụng linh hoạt, đồng bộ các cơ chế, chính sách gắn với khơi dậy vai trò chủ thể của người dân.
Người dân tham gia xây dựng hạ tầng, chỉnh trang khu dân cư, phát triển sản xuất và bảo vệ môi trường, cùng chính quyền thực hiện cơ chế “Nhà nước và Nhân dân cùng làm”.
Nhờ định hướng phù hợp và chính sách hỗ trợ đồng bộ, tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp giai đoạn 2021-2025 ước đạt 3,81%/năm; cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản có chuyển biến tích cực, từng bước nâng cao giá trị gia tăng.
Bên cạnh kết quả đạt được, các chính sách hỗ trợ nông nghiệp vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định. Mức hỗ trợ còn thấp, nội dung dàn trải; đặc biệt chưa hình thành được cơ chế đủ mạnh để thúc đẩy phát triển nông nghiệp số, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ.
Theo ông Vũ Văn Tiến, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đối với một địa phương có diện tích tự nhiên lớn, dân số đông và không gian sinh thái đa dạng như Thanh Hóa, nếu thiếu các tổ chức kinh tế tập thể, hợp tác xã đủ mạnh để tích tụ, tập trung đất đai, chuẩn hóa quy trình sản xuất, liên kết thị trường và phân phối giá trị công bằng thì rất khó hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, khó thu hút doanh nghiệp đầu tư chiều sâu và đạt mục tiêu tăng trưởng xanh.
"Việc xác định rõ định hướng chính sách, giải pháp phát triển nông nghiệp giai đoạn 2026 - 2030 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vừa mang tính chiến lược, vừa sát thực tiễn", ông Tiến nhấn mạnh.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XX, nhiệm kỳ 2025-2030 xác định mục tiêu xây dựng Thanh Hóa trở thành tỉnh phát triển toàn diện, trong đó nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò trụ đỡ của nền kinh tế. Để cụ thể hóa mục tiêu này, Ủy ban nhân dân tỉnh đang nghiên cứu, tham mưu xây dựng chính sách phát triển nông nghiệp và môi trường giai đoạn 2026-2030.
Dự thảo nghị quyết tập trung vào các nhóm chính sách bám sát thực tiễn sản xuất và xu hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Trọng tâm là hỗ trợ phát triển sản xuất giống cây trồng bằng phương pháp nuôi cấy mô nhằm phát triển các sản phẩm lợi thế; hỗ trợ đầu tư xây dựng nhà màng, nhà lưới thúc đẩy sản xuất ứng dụng công nghệ cao; khuyến khích sản xuất nông nghiệp đạt tiêu chuẩn hữu cơ.
Đồng thời, chính sách cũng hướng tới hỗ trợ nuôi trồng thủy sản theo quy trình thực hành tốt; tiếp tục tích tụ, tập trung đất đai để phát triển sản xuất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao và đầu tư hạ tầng cho các vùng sản xuất tập trung.
Tại Hội thảo “Xây dựng chính sách phát triển nông nghiệp và môi trường trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa”, Tiến sĩ Bùi Sỹ Lợi, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa - Xã hội của Quốc hội, cho rằng để chính sách phát huy hiệu quả thực chất cần đổi mới mạnh mẽ mô hình quản lý, điều hành theo hướng lấy kết quả, hiệu quả đầu ra làm thước đo.
Theo đó, cần áp dụng quản trị đa tầng, đa chủ thể; xác định rõ vai trò của chính quyền địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng nông dân, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ theo chuỗi giá trị.
Ông cũng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ thống quản lý chính sách theo hướng số hóa, cho phép theo dõi tiến độ, cập nhật khó khăn và đánh giá kết quả từng giai đoạn thực hiện. Cùng với đó là tăng cường năng lực thực thi ở cơ sở, nhất là đào tạo cán bộ cấp xã về phân tích chính sách, quản lý dự án, truyền thông và ứng dụng công nghệ số.
Việc thiết lập bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cụ thể như tỷ lệ nông dân được hưởng lợi từ chính sách, mức tăng giá trị nông sản xanh, tỷ lệ giảm phát thải khí nhà kính… được xem là giải pháp quan trọng để bảo đảm chính sách không chỉ ban hành đúng, mà còn đo lường được tác động và giá trị thực tiễn mang lại trong quá trình triển khai.
Bất chấp bức tranh ảm đạm của thị trường dệt may toàn cầu với những con số sụt giảm kỷ lục từ các cường quốc nhập khẩu, 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu hợp nhất toàn Tập đoàn dệt may Việt Nam tăng 6,5% so cùng kỳ, hoàn thành 46% kế hoạch năm; lợi nhuận hợp nhất tăng 14,4% so cùng kỳ, hoàn thành 55% kế hoạch năm...
Khi lợi thế nhân công giá rẻ dần mất đi, Việt Nam cần chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn và sản xuất thông minh. Các chuyên gia Đức khẳng định: Thay đổi tư duy lãnh đạo và nâng chất nguồn nhân lực là "chìa khóa" để Việt Nam bứt phá trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Trong giai đoạn 2023 - 2025, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 23–24% mỗi năm.Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn, ngành rau quả cần quyết liệt tháo gỡ hai "điểm nghẽn" là sản xuất nhỏ lẻ thiếu chuẩn hóa và tỷ lệ chế biến sâu còn thấp so với tiềm năng...
Từ khâu chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển đến tiêu thụ, thịt gia cầm lưu thông trên toàn địa bàn TP.Hồ Chí Minh sẽ từng bước được nhận diện và truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ số. Mục tiêu nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu truy xuất minh bạch, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm và kiểm soát chất lượng sản phẩm...
Trong bối cảnh nguồn cung ứng và hạ tầng truyền tải phải vận hành chạm ngưỡng giới hạn, tiết kiệm điện không còn là khẩu hiệu mang tính phong trào hay giải pháp ứng phó tạm thời, mà đã trở thành một yêu cầu cấp bách, một "nguồn năng lượng" đặc biệt cần được khai thác một cách thường xuyên và đồng bộ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.