Trao đổi tại buổi họp báo ngày 1/6/2026, Cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho biết Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tổng kết Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Cùng với đó, Bộ đang xây dựng Đề án Luật Tài nguyên, Môi trường Biển và Hải đảo (sửa đổi).
Từ thực tiễn cho thấy hiện nay có 3 điểm nghẽn lớn về thể chế, chính sách phát triển kinh tế biển cần tiếp tục tháo gỡ với 4 nhóm giải pháp chính sách lớn.
Chia sẻ về các điểm nghẽn hiện nay, ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho biết trước hết, hệ thống thể chế pháp luật đang có nhiều luật cùng tham gia và có liên quan đến việc chi phối các hoạt động trên không gian biển.
Theo đó, bên cạnh Luật Tài nguyên, Môi trường Biển và Hải đảo; còn có Luật Dầu khí, Luật Địa chất Khoáng sản, Luật Hàng hải, Luật Thủy sản, Luật Biển Việt Nam…đang song hành tồn tại, dẫn đến tình trạng phân tán trong quản lý.
Điều này đòi hỏi việc hoàn thiện thể chế, các luật, trong đó có Luật Tài nguyên, Môi trường Biển và Hải đảo nhằm thiết lập một khuôn khổ quản lý tổng hợp, thống nhất và hiệu quả, phục vụ mục tiêu quản trị biển trong tình hình mới, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế 2 con số.
Thứ hai, hiện nay còn thiếu các công cụ quản trị hiện đại liên quan đến việc phân bổ, giao, cho thuê, sử dụng các khu vực biển, chưa tạo được động lực mạnh cho phát triển kinh tế biển. Qua 10 năm triển khai, một số quy định của luật hiện hành đã bộc lộ những hạn chế này đòi hỏi cần tiếp tục sửa đổi hoàn thiện.
Thứ ba, công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo vẫn còn thiếu các thiết chế đủ mạnh. Trong bối cảnh áp lực phát triển ngày càng lớn, yêu cầu đặt ra là phải hoàn thiện các công cụ quản lý, kiểm soát chặt chẽ hơn, gắn chặt với quan điểm “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”. Bên cạnh đó cần có các thiết chế phục vụ phát triển bền vững, đặc biệt là sinh kế người dân ở các khu vực biển.
Từ thực tiễn trên, ông Toản nhấn mạnh việc sửa đổi luật tập trung vào 4 nhóm nội dung chính sách lớn.
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế quản lý tổng hợp và thống nhất tài nguyên môi trường biển và hải đảo trên cơ sở quy hoạch không gian biển đã được Quốc hội thông qua năm 2024. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng, nhưng cần tiếp tục hoàn thiện, luật hóa những vấn đề liên quan đến quy hoạch.
Thứ hai, hoàn thiện cơ chế giao, cho thuê, đăng ký, đấu giá sử dụng không gian biển theo hướng công khai, minh bạch, và tạo sự yên tâm cho các nhà đầu tư.
Thứ ba, xây dựng các cơ chế chính sách vượt trội để thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh tế trên biển, gia tăng tỷ trọng đóng góp của kinh tế biển vào kinh tế đất nước bởi thực tế hiện nay trên biển có những loại hình mới như năng lượng tái tạo...
Thứ tư, tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, rác thải nhựa đại dương.
Trả lời câu hỏi của Phóng viên VnEconomy về giải pháp hài hòa giữa phát triển kinh tế biển, khai thác không gian biển gắn với bảo tồn biển, ông Toản nhấn mạnh quan điểm, yêu cầu xuyên suốt “không đánh đổi môi trường biển, hệ sinh thái biển và đa dạng sinh học biển lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”. Việc phát triển kinh tế biển dựa trên nền tảng bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên biển.
Để giải quyết hài hòa bài toán này, theo Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, bên cạnh việc hoàn thiện thể chế, một trong những vấn đề được tập trung quan tâm nhất là huy động sức mạnh của toàn xã hội, các doanh nghiệp và cộng đồng cư dân ven biển tham gia vào kinh tế biển, có trách nhiệm bảo vệ môi trường biển, gìn giữ biển.
Bên cạnh đó, công tác truyền thông được xác định là yếu tố quan trọng nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về vai trò, giá trị của biển.
Các chuyên gia nhìn nhận với diện tích vùng biển khoảng 1 triệu km2, Việt Nam có tiềm năng, lợi thế lớn trong phát triển kinh tế biển, kinh tế biển sâu. Việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo không chỉ nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn hiện tại mà còn tạo hành lang pháp lý vững chắc cho phát triển kinh tế biển theo hướng xanh, bền vững trong thời gian tới.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp, dư địa phát triển kinh tế biển của Việt Nam còn rất lớn khi 21/34 địa phương có biển. Tuy nhiên, điều quan trọng là tổ chức quản lý như thế nào để người dân và doanh nghiệp không phải đi qua nhiều đầu mối khi giải quyết thủ tục.
Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng lưu ý định hướng xây dựng chính sách là “luật chỉ quy định khung,” còn các vấn đề phát sinh trong thực tiễn sẽ tiếp tục điều chỉnh thông qua nghị định.
Các cơ chế quốc tế như cơ chế toàn cầu về bù đắp và giảm thiểu carbon trong lĩnh vực hàng không quốc tế (CORSIA) của ICAO, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh Châu Âu cùng các yêu cầu về phát thải trong chuỗi cung ứng đang tạo ra áp lực ngày càng lớn đối với các quốc gia xuất khẩu, trong đó có Việt Nam...
Brussels đang tiến hành cấm sử dụng nguồn tài trợ của Liên minh châu Âu (EU) cho các dự án năng lượng sạch có sử dụng biến tần (inverter) cho điện mặt trời và hệ thống lưu trữ pin đến từ các “quốc gia có rủi ro cao”, mà chủ yếu là Trung Quốc. Theo đó, các nhà phát triển dự án sẽ phải chuyển sang sử dụng các giải pháp thay thế từ châu Âu, nhưng điều này có thể khiến hóa đơn năng lượng và chi phí sản xuất tại châu Âu tăng lên.
Khi nhu cầu điện tăng mạnh dưới tác động của AI, trung tâm dữ liệu và xu hướng điện khí hóa, việc bảo đảm độ tin cậy của hệ thống thông qua các giải pháp đo lường, kiểm định và giám sát kỹ thuật đang trở thành yếu tố then chốt của quá trình chuyển dịch năng lượng...
Việt Nam cùng đại diện các quốc gia thành viên Thỏa thuận Paris đang họp tại Đức để thảo luận nhiều vấn đề về thực hiện mục tiêu khí hậu toàn cầu...
Từ nguồn gỗ rừng trồng tại Gia Lai, viên nén đen đang trở thành sản phẩm giá trị gia tăng cao, góp phần thúc đẩy chuyển đổi xanh và nâng tầm ngành lâm sản địa phương...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.