Theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), lũy kế đến hết tháng 4/2026, Thụy Điển đang là quốc gia dẫn đầu trong nhóm các nước Bắc Âu đầu tư vào Việt Nam, với tổng số vốn FDI đạt hơn 1,76 tỷ USD tại 111 dự án còn hiệu lực.
Thời gian vừa qua, Thụy Điển đã và đang đẩy mạnh hợp tác và đầu tư vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo tại Việt Nam, tập trung vào các lĩnh vực như viễn thông 5G, nghiên cứu và phát triển (R&D), công nghệ xanh, dược phẩm, trí tuệ nhân tạo và sản xuất thông minh.
Xu hướng này không chỉ phản ánh sự quan tâm ngày càng lớn của các doanh nghiệp Thụy Điển đối với thị trường Việt Nam, mà còn cho thấy tiềm năng hợp tác sâu rộng giữa hai quốc gia trong quá trình chuyển đổi số và phát triển bền vững.
Một trong những doanh nghiệp tiêu biểu là Ericsson, tập đoàn viễn thông đã hoạt động tại Việt Nam từ năm 1993 và hiện cung cấp hạ tầng công nghệ cho các nhà mạng lớn như Viettel, VNPT và MobiFone trên các nền tảng GSM, LTE và 5G. Không chỉ thúc đẩy hợp tác trong chuyển đổi số và công nghiệp 4.0, Ericsson còn có kế hoạch mở rộng hoạt động R&D tại Việt Nam trong thời gian tới.
Theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), lũy kế đến hết tháng 4/2026, Thụy Điển đang là quốc gia dẫn đầu trong nhóm các nước Bắc Âu đầu tư vào Việt Nam, với tổng số vốn FDI đạt hơn 1,76 tỷ USD tại 111 dự án còn hiệu lực.
Đáng chú ý, vào tháng 3/2026 vừa qua, Ericsson và VNPT đã hợp tác triển khai hạ tầng di động thế hệ mới cho các dự án sân bay trọng điểm tại Việt Nam. Đây là lần đầu tiên hai bên phối hợp trong lĩnh vực hàng không, ứng dụng công nghệ kết nối di động tiên tiến nhằm nâng cao hiệu quả vận hành, tăng tính linh hoạt và hiện đại hóa hệ thống sân bay trên cả nước.
Bên cạnh lĩnh vực viễn thông, hợp tác khoa học công nghệ giữa hai nước cũng đang mở rộng mạnh mẽ sang lĩnh vực y tế và trí tuệ nhân tạo.
Cuối năm 2025 vừa rồi, Công ty AstraZeneca của Thụy Điển và Đại học Bách khoa Hà Nội cũng đã chính thức hợp tác và ra mắt Trung tâm đổi mới sáng tạo y tế tại Viện nghiên cứu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI4LIFE). Trung tâm được thành lập nhằm thúc đẩy các giải pháp y tế ứng dụng AI, đồng thời nâng cao khả năng tiếp cận công bằng đối với các công nghệ chăm sóc sức khỏe tiên tiến tại Việt Nam và khu vực.
Viện nghiên cứu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI4LIFE) là mô hình hợp tác tiêu biểu giữa Việt Nam và Thụy Điển nói chung cũng như giữa AstraZeneca và Đại học Bách khoa Hà Nội , góp phần hiện thực hóa định hướng phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Việc ngày càng nhiều doanh nghiệp Thụy Điển tăng cường sự hiện diện cũng như đẩy mạnh hợp tác với các đối tác của Việt Nam cho thấy niềm tin lớn vào tiềm năng phát triển khoa học công nghệ của Việt Nam. Từ hạ tầng số, tự động hóa cho tới công nghệ xanh và đổi mới kỹ thuật số, hai quốc gia được đánh giá có nhiều dư địa hợp tác để cùng phát triển các giải pháp bền vững, cạnh tranh và toàn diện.
Theo Báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index - GII) 2025 do Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới công bố (WIPO), Thụy Điển tiếp tục giữ vị trí thứ hai thế giới về đổi mới sáng tạo, đồng thời dẫn đầu Liên minh châu Âu và khu vực Bắc Âu.
Trong khi đó, Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như một động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Từ đó, mở ra nhiều cơ hội để Việt Nam học hỏi kinh nghiệm, tiếp cận công nghệ tiên tiến và tăng cường hợp tác với các đối tác hàng đầu của Thụy Điển trong các lĩnh vực công nghệ cao.
Đặc biệt, tại buổi làm việc với Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Minh vào ngày 20/5 vừa qua, bà Camilla Mellander, Tổng Vụ trưởng phụ trách Chính sách thương mại, Bộ Ngoại giao Thụy Điển, nhấn mạnh Thụy Điển sẽ tiếp tục mở rộng hợp tác với Việt Nam trong nghiên cứu, phát triển và công nghệ.
Hai bên cũng sẽ ưu tiên thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực mà Thụy Điển có thế mạnh như đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp, R&D, sở hữu trí tuệ, viễn thông 5G/6G và năng lượng hạt nhân an toàn.
Tại buổi làm việc, nhiều tập đoàn công nghệ lớn của Thụy Điển cũng đã trao đổi các định hướng hợp tác cụ thể trong các lĩnh vực hạ tầng số, tự động hóa, tái chế dệt may, dược phẩm, giám sát bức xạ và phần mềm công nghiệp.
Trước đó, tại cuộc làm việc với Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung, ông Dag Hartelius, Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao Thụy Điển, cũng khẳng định Việt Nam ngày càng trở thành đối tác quan trọng và đáng tin cậy của Thụy Điển tại khu vực cũng như trong chuỗi giá trị toàn cầu. Ông nhấn mạnh các doanh nghiệp Thụy Điển đang ngày càng quan tâm tới thị trường Việt Nam và coi đây là một trong những thị trường tăng trưởng trọng điểm tại châu Á.
Không chỉ thúc đẩy hợp tác đầu tư và công nghệ, ông Hartelius cho biết Thụy Điển cũng mong muốn tăng cường hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Phía Thụy Điển khẳng định sẵn sàng tiếp nhận thêm các nhà nghiên cứu, sinh viên Việt Nam sang học tập và nghiên cứu, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm trong các lĩnh vực đổi mới sáng tạo, công nghệ cao và an ninh mạng.
Hai bên cũng thống nhất thúc đẩy hợp tác về năng lượng tái tạo, cảng biển thông minh, kinh tế tuần hoàn, logistics xanh, phát triển đô thị bền vững, cũng như triển khai các chương trình học bổng và đồng nghiên cứu giữa các trường đại học, viện nghiên cứu của hai nước.



Thị trường mua bán và sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đang bước vào chu kỳ tăng trưởng mới, với với quy mô được dự báo có thể đạt 14 - 16 tỷ USD vào năm 2030. Dòng vốn được thúc đẩy từ nền tảng vĩ mô, sức bật nội tại và tiềm năng từ lĩnh vực công nghệ cùng kỳ vọng nâng hạng thị trường...
Intel đánh dấu một cột mốc quan trọng tại Việt Nam với tổng kim ngạch xuất khẩu vượt 110 tỷ USD, minh chứng cho sự phát triển vượt bậc của ngành công nghiệp bán dẫn tại Việt Nam, thành tựu kinh tế và khẳng định vai trò chiến lược trong nền kinh tế số…
Nhu cầu vật liệu xây dựng phục vụ hàng loạt dự án hạ tầng, giao thông và đầu tư công quy mô lớn đang đặt ra yêu cầu bảo đảm nguồn cung ổn định, kiểm soát biến động giá và ngăn chặn tình trạng đầu cơ. Nhiều nhóm giải pháp đồng bộ nhằm quản lý nguồn cung, điều tiết thị trường và kiểm soát giá vật liệu xây dựng trong giai đoạn tới đã được đề ra.
Trong khuôn khổ hợp tác giữa Việt Nam và EU, việc triển khai hiệu quả Dự án Hợp phần 1 thuộc Chương trình Tăng cường quản trị kinh tế Việt Nam (EEGP) đã góp phần hoàn thiện khuôn khổ quản lý tài chính công của Việt Nam theo hướng minh bạch, hiện đại, đồng thời tạo nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực quản trị kinh tế...
Mối quan hệ ngoại giao kéo dài hơn 55 năm giữa Việt Nam và Thụy Điển đang chuyển dịch mạnh mẽ sang một giai đoạn mới, được định hình bởi dòng vốn thương mại, đầu tư, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh. Dù bối cảnh kinh tế toàn cầu có nhiều biến động, các doanh nghiệp Thụy Điển vẫn ghi nhận kết quả hoạt động ổn định và khẳng định cam kết gắn bó lâu dài tại thị trường Việt Nam.
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.