TP.HCM: Chuẩn hóa định mức vận hành xe buýt, nâng cao chất lượng vận tải công cộng
AAnh Khuê
Chọn cỡ chữ
Ủy ban nhân dân TP.Hồ Chí Minh vừa ban hành Quyết định số 20/2026/QĐ-UBND về định mức kinh tế kỹ thuật dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt sử dụng nhiên liệu diesel và khí CNG, đánh dấu một bước cập nhật quan trọng sau gần 8 năm áp dụng khung định mức cũ...
Theo Quyết định 20/2026/QĐ-UBND, định mức được phân tách theo quy mô phương tiện, từ xe buýt nhỏ đến xe buýt lớn, cũng như phân biệt rõ giữa hai loại nhiên liệu chính là diesel và khí CNG. Ảnh minh họa
Hiện nay, chi phí đầu vào, đặc biệt là nhiên liệu và nhân
công, liên tục biến động, trong khi yêu cầu về chất lượng phục vụ và tính bền vững
của hệ thống giao thông đô thị ngày càng cao. Điều này đặt ra yêu cầu phải xây
dựng lại một hệ thống định mức đủ sát thực tế, vừa bảo đảm kiểm soát chi phí, vừa
tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động trong tổ chức vận hành.
CHUẨN HÓA TOÀN DIỆN ĐỊNH
MỨC, SIẾT CHẶT “KHUNG CHI PHÍ” VẬN HÀNH
Trọng tâm của Quyết định này đó là thiết lập một hệ thống
định mức kinh tế - kỹ thuật tương đối toàn diện, bao phủ đầy đủ các cấu phần của
hoạt động vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt.
Thay vì áp dụng một khung chung, định mức được phân tách theo quy mô phương tiện, từ xe buýt nhỏ đến xe buýt lớn, cũng như phân biệt rõ giữa hai loại nhiên liệu chính là diesel và khí CNG. Cách tiếp cận này giúp phản ánh sát hơn đặc thù vận hành của từng loại phương tiện, hạn chế tình trạng “cào bằng” trong tính toán chi phí.
Trong cấu trúc định mức, lao động và tiền lương được xác định
là yếu tố nền tảng. Hoạt động xe buýt được chuẩn hóa theo ca làm việc 480 phút,
tương đương 8 giờ, với 2 ca mỗi ngày và khoảng 312 ngày vận hành trong năm. Mỗi
ca xe bố trí một lái xe và một nhân viên phục vụ, bảo đảm yêu cầu vận hành liên
tục cũng như phục vụ hành khách. Việc lượng hóa cụ thể thời gian và nhân sự
không chỉ giúp kiểm soát chi phí nhân công mà còn tạo cơ sở để đánh giá năng suất
lao động trong toàn hệ thống.
Song hành với đó, tiền lương được tính toán theo hệ số và bậc
lương gắn với quy định của Nhà nước, bao gồm cả các khoản phụ cấp và bảo hiểm bắt
buộc. Cách tiếp cận này giúp bảo đảm tính minh bạch và đồng bộ với chính sách
tiền lương chung, đồng thời phản ánh tương đối đầy đủ chi phí thực tế mà doanh
nghiệp phải chi trả.
Chi phí nhiên liệu, yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong vận hành
xe buýt, cũng được chuẩn hóa chi tiết theo từng loại phương tiện và nhiên liệu.
Việc quy định mức tiêu hao cụ thể cho xe diesel và xe CNG, kèm theo hệ số nhiên
liệu phụ, giúp việc tính toán chi phí vận hành trở nên sát thực tế hơn, đồng thời
tạo động lực để doanh nghiệp tối ưu hóa mức tiêu hao nhiên liệu.
Cùng với nhiên liệu, chi phí khấu hao phương tiện được xác định
ở mức 10%/năm, phản ánh vòng đời sử dụng của xe buýt và tạo cơ sở cho việc lập
kế hoạch đầu tư, thay thế phương tiện. Hệ thống định mức bảo dưỡng cũng được
xây dựng theo chu kỳ kilômét, bao phủ toàn bộ các hạng mục kỹ thuật quan trọng,
từ động cơ đến hệ thống phanh, điều hòa và khung gầm. Điều này giúp doanh nghiệp
chủ động hơn trong công tác bảo trì, qua đó nâng cao độ an toàn và ổn định
trong vận hành.
MINH BẠCH TRỢ GIÁ, TẠO
SÂN CHƠI CẠNH TRANH CHO DOANH NGHIỆP VẬN TẢI
Một trong những ý nghĩa quan trọng nhất của Quyết định số 20/2026/QĐ-UBND đó là tạo nền tảng minh bạch cho cơ chế trợ giá xe buýt, vốn là vấn đề được
quan tâm trong nhiều năm qua tại TP.Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh doanh thu từ vé
chưa đủ bù đắp chi phí, trợ giá vẫn đóng vai trò then chốt để duy trì hoạt động
của hệ thống vận tải công cộng.
Tuy nhiên, việc thiếu một bộ định mức cập nhật đã khiến công
tác xác định chi phí hợp lý gặp nhiều khó khăn.
Với hệ thống định mức mới, toàn bộ các yếu tố cấu thành giá
dịch vụ đã được lượng hóa một cách rõ ràng, từ chi phí lao động, nhiên liệu đến
khấu hao, bảo dưỡng và các chi phí gián tiếp. Trên cơ sở đó, chi phí quản lý được
xác định theo tỷ lệ 5% chi phí trực tiếp, trong khi lợi nhuận định mức 4,5% trên tổng chi phí. Các tỷ lệ này được đánh giá là đủ để doanh nghiệp duy
trì hoạt động, đồng thời hạn chế nguy cơ đội giá dịch vụ.
So với diesel, CNG có ưu điểm giảm phát thải, phù hợp với mục tiêu phát triển giao thông bền vững trong bối cảnh áp lực ô nhiễm không khí ngày càng gia tăng tại đô thị lớn
Việc chuẩn hóa chi phí không chỉ giúp cơ quan quản lý xác định
chính xác mức trợ giá cần thiết mà còn tạo điều kiện để so sánh hiệu quả giữa
các đơn vị vận tải. Đây là tiền đề quan trọng để triển khai cơ chế đấu thầu, đặt
hàng dịch vụ vận tải công cộng theo hướng cạnh tranh, minh bạch hơn, thay vì phụ
thuộc vào cơ chế chỉ định như trước đây.
Ở góc độ doanh nghiệp, bộ định mức mới mang lại một “khung
tham chiếu” rõ ràng để xây dựng phương án tài chính, tính toán chi phí và tối
ưu hóa hoạt động. Khi các yếu tố chi phí được xác định cụ thể, doanh nghiệp có
thể chủ động hơn trong việc kiểm soát hiệu quả vận hành, đồng thời nâng cao
năng lực cạnh tranh trong các gói thầu cung cấp dịch vụ.
THÚC ĐẨY CHUYỂN ĐỔI
NĂNG LƯỢNG, NÂNG CHẤT DỊCH VỤ XE BUÝT ĐÔ THỊ
Không dừng lại ở việc chuẩn hóa chi phí, quy định này còn thể hiện định hướng phát triển dài hạn của TP.Hồ Chí Minh đối với hệ thống
vận tải công cộng, đặc biệt là trong lĩnh vực chuyển đổi năng lượng và ứng dụng
công nghệ.
Việc đưa xe buýt sử dụng khí CNG vào hệ thống định mức với
các thông số riêng biệt cho thấy thành phố đang từng bước thúc đẩy sử dụng
phương tiện thân thiện môi trường. So với diesel, CNG có ưu điểm giảm phát thải,
phù hợp với mục tiêu phát triển giao thông bền vững trong bối cảnh áp lực ô nhiễm
không khí ngày càng gia tăng tại đô thị lớn.
Đáng chú ý, chi phí ứng dụng khoa học công nghệ lần đầu tiên
được đưa vào cấu phần định mức. Khoản chi này bao gồm đầu tư và vận hành các hệ
thống như vé điện tử, giám sát hành trình, điều hành thông minh và các nền tảng
hỗ trợ quản lý khác. Việc chính thức “định danh” chi phí công nghệ không chỉ phản
ánh xu hướng số hóa trong ngành vận tải mà còn tạo cơ sở để doanh nghiệp mạnh dạn
đầu tư, nâng cao chất lượng dịch vụ.
Trong bối cảnh TP.Hồ Chí Minh đang hướng tới xây dựng hệ thống
giao thông công cộng đa phương thức, kết nối giữa xe buýt, metro và các loại
hình vận tải khác, việc nâng cấp chất lượng xe buýt đóng vai trò đặc biệt quan
trọng. Xe buýt không chỉ là phương tiện vận chuyển độc lập mà còn là “mắt xích
kết nối”, bảo đảm tính liên thông của toàn hệ thống.
Quyết định số 20/2026/QĐ-UBND không chỉ là điều chỉnh kỹ thuật, mà được nhìn nhận như một động thái tái cấu trúc toàn diện nền tảng chi phí của hệ thống xe buýt, qua đó tạo cơ sở minh bạch cho cơ chế trợ giá và nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải công cộng trên địa bàn thành phố.
Đồng thời, đó còn là nền tảng cho giai đoạn phát triển mới của
vận tải hành khách công cộng tại TP.Hồ Chí Minh. Khi các yếu tố chi phí được
minh bạch, cơ chế quản lý được chuẩn hóa và định hướng công nghệ được xác lập,
hệ thống xe buýt được kỳ vọng sẽ vận hành hiệu quả hơn, qua đó góp phần giảm áp
lực giao thông và nâng cao chất lượng sống đô thị.
Trong dài hạn, việc hoàn thiện khung định mức cũng sẽ hỗ trợ
thành phố trong việc thu hút đầu tư vào lĩnh vực vận tải công cộng, đặc biệt là
các mô hình hợp tác công tư. Khi bài toán chi phí được giải một cách rõ ràng,
niềm tin của nhà đầu tư và doanh nghiệp sẽ được củng cố, mở ra dư địa cho những
bước phát triển mạnh mẽ hơn của hệ thống giao thông đô thị.
Các cơ chế quốc tế như cơ chế toàn cầu về bù đắp và giảm thiểu carbon trong lĩnh vực hàng không quốc tế (CORSIA) của ICAO, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh Châu Âu cùng các yêu cầu về phát thải trong chuỗi cung ứng đang tạo ra áp lực ngày càng lớn đối với các quốc gia xuất khẩu, trong đó có Việt Nam...
Brussels đang tiến hành cấm sử dụng nguồn tài trợ của Liên minh châu Âu (EU) cho các dự án năng lượng sạch có sử dụng biến tần (inverter) cho điện mặt trời và hệ thống lưu trữ pin đến từ các “quốc gia có rủi ro cao”, mà chủ yếu là Trung Quốc. Theo đó, các nhà phát triển dự án sẽ phải chuyển sang sử dụng các giải pháp thay thế từ châu Âu, nhưng điều này có thể khiến hóa đơn năng lượng và chi phí sản xuất tại châu Âu tăng lên.
Khi nhu cầu điện tăng mạnh dưới tác động của AI, trung tâm dữ liệu và xu hướng điện khí hóa, việc bảo đảm độ tin cậy của hệ thống thông qua các giải pháp đo lường, kiểm định và giám sát kỹ thuật đang trở thành yếu tố then chốt của quá trình chuyển dịch năng lượng...
Từ nguồn gỗ rừng trồng tại Gia Lai, viên nén đen đang trở thành sản phẩm giá trị gia tăng cao, góp phần thúc đẩy chuyển đổi xanh và nâng tầm ngành lâm sản địa phương...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.
Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến...
Tổng số đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI trong cả nước là 182. Số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử của các tỉnh, thành phố...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...