
Ba tuyến quốc lộ 53, 62 và 91B đi qua địa phận các tỉnh Long An, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng và Bạc Liêu. Trong đó, tuyến 53 đi qua địa phận hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh; tuyến 62 đi qua Long An, và tuyến 91B (tuyến Nam sông Hậu) đi qua các địa phương gồm Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng và Bạc Liêu.
Theo tờ trình của Bộ Giao thông vận tải, ba tuyến quốc lộ kết nối vùng và được xây dựng thích ứng với biến đổi khí hậu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long này được đầu tư bằng nguồn vốn vây của Ngân hàng Thế giới (WB), với tổng mức đầu tư gần 9.300 tỷ đồng, tương đương 385 triệu USD, tiêu chuẩn kỹ thuật đường cấp III đồng bằng, tốc độ thiết kế 80 km/h…
Tuyến quốc lộ 53
Bộ đề xuất nâng cấp cầu Ngã Tư (từ Km7 820 đến Km8 730) và đoạn Long Hồ - Ba Si (Km11 295 đến Km56 180) có tổng chiều dài đầu tư khoảng 41 km, thuộc địa phận hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh. Tuyến được đầu tư với tiêu chuẩn đường cấp III đồng bằng, vận tốc thiết kế 80 km/h, nền đường rộng 12 m, mặt đường rộng 11 m, gồm 2 làn xe cơ giới, 2 làn xe thô sơ.
Tuyến quốc lộ 62
Đề xuất nâng cấp đoạn từ Km4 200 tại nút giao cao tốc TP.HCM - Trung Lương đến Km74, chiều dài đầu tư khoảng 69 km. Tuyến được nâng cấp, cải tạo đạt tiêu chuẩn đường cấp III đồng bằng, vận tốc thiết kế 80 km/h, nền đường rộng 12 m, mặt đường rộng 11 m gồm 2 làn xe cơ giới và 2 làn xe thô sơ.
Tuyến quốc lộ 91B
Toàn tuyến có chiều dài khoảng 141 km, nằm trên địa phận thành phố Cần Thơ và các tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, đoạn từ Km2 604 tại ngã năm cầu Cần Thơ đến Km143 480. Tuyến được nâng cấp đạt tiêu chuẩn đường cấp III đồng bằng, vận tốc thiết kế 80 km/h. Đối với những đoạn có nền đường rộng 12 m và mặt đường rộng 11m thì giữ nguyên quy mô và chỉ tăng cường mặt đường.
Sơ bộ tổng mức đầu tư khoảng 9.297 tỷ đồng (385 triệu USD); trong đó, vốn vay của WB là 262 triệu USD, vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam 2.975 tỷ đồng. Chia ra: Vốn vay dùng cho các hạng mục gồm chi phí xây dựng, trang thiết bị trước thuế, chi phí tư vấn giám sát thi công, chi phí dự phòng cho các hạng mục trên; vốn đối ứng dành cho các hạng mục chi phí quản lý dự án, tư vấn đầu tư xây dựng, các chi phí khác, chi phí giải phóng mặt bằng và các loại thuế, phí.
Bộ Giao thông vận tải nhận định, việc đầu tư loạt 3 dự án quan trọng này nhằm từng bước hoàn chỉnh mạng lưới giao thông đường bộ kết nối khu vực theo quy mô quy hoạch được duyệt, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh khu vực miền Tây Nam Bộ. Đồng thời, dự án cũng nhằm bảo đảm an toàn giao thông và thích ứng với biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Cuối tháng 3/2024, Bộ Giao thông vận tải đã trình lên Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư nâng cấp, cải tạo 3 dự án quốc lộ 53, 62 và 91B này, sử dụng nguồn vốn vay của WB với thời gian đầu tư là 4 năm (2024 - 2027), kể từ ngày hiệp định ký kết giữa WB và Chính phủ Việt Nam có hiệu lực.
Tổng mức đầu tư dự án trình lúc bấy giờ gần 9.300 tỷ đồng, tương đương khoảng 340 triệu USD; trong đó, vốn vay của WB là 263 triệu USD (gần 6.300 tỷ đồng) và vốn đối ứng phía Việt Nam 121 triệu USD (gần 2.900 tỷ đồng).
Dự án được chia thành 3 dự án thành phần, gồm: đầu tư nâng cấp tuyến quốc lộ 53; đầu tư nâng cấp tuyến quốc lộ 62 và đầu tư nâng cấp tuyến quốc lộ 91B.
Trước đó, tại Quyết định số 646 ngày 07/6/2023 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án đầu tư nâng cấp 3 tuyến quốc lộ này, so với đề xuất lần này của Bộ Giao thông vận tải thì phạm vi đầu tư, quy mô đầu tư và hướng tuyến đã được phê duyệt không có sự thay đổi.
Tuy nhiên, lãnh đạ Bộ này cho rằng sở dĩ tổng mức đầu tư có tăng khoảng 2.139 tỷ đồng là do tăng chi phí xây dựng hơn 956 tỷ đồng, tăng chi phí giải phóng mặt bằng lên 840 tỷ đồng…
Cụ thể, trong bước đề xuất dự án, chi phí xây dựng được tính theo suất vốn đầu tư do Bộ Xây dựng công bố tại Quyết định số 65 ngày 20/01/2021. Tại bước chủ trương đầu tư (lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi), chi phí xây dựng được tính theo khối lượng thiết kế sơ bộ và đơn giá vật liệu, nhân công, máy tại thời điểm hiện nay.
Trong bước đề xuất dự án, chi phí giải phóng mặt bằng được tính theo khung giá đất của các địa phương tại thời điểm năm 2021. Tại bước chủ trương đầu tư, chi phí giải phóng mặt bằng được tính trên cơ sở các quyết định đơn giá đất, các hạng mục liên quan do địa phương mới ban hành và các văn bản kiến nghị đơn giá áp dụng cho dự án của địa phương.
Thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế theo nghị quyết của HĐND thành phố trong năm 2026, Đà Nẵng đã đưa chủ trương quan trọng nhằm khai thác tối đa nguồn lực khoáng sản để đảm bảo nguồn cung vật liệu cho các dự án trọng điểm, không chỉ để đáp ứng nhu cầu xây dựng mà còn để tạo nguồn thu cho ngân sách thành phố, hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Đồng Nai vừa thông qua các nghị quyết điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với hai dự án cầu Cát Lái và cầu Đồng Nai 2 (cầu Long Hưng), nâng tổng mức đầu tư của cả hai công trình lên hơn 36.750 tỷ đồng...
Sáng 13/6, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng làm việc với TP. Hồ Chí Minh về tình hình phát triển kinh tế - xã hội 05 tháng đầu năm và các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, giải ngân vốn đầu tư công, phát triển nhà ở xã hội, tình hình triển khai xây dựng Dự án Luật Đô thị đặc biệt…
Sau gần 4 thập kỷ mở cửa và đổi mới, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một trụ cột quan trọng, đóng góp mạnh mẽ vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Tuy nhiên, trước bối cảnh toàn cầu đang thay đổi sâu sắc, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết mới nhằm nâng tầm chất lượng dòng vốn đầu tư nước ngoài…
Khi đi vào hoạt động ổn định, nhà máy dự kiến mang lại doanh thu khoảng 530 triệu USD mỗi năm, đồng thời tạo ra việc làm cho khoảng 2.000 lao động địa phương...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.