Ngành nông nghiệp đặt mục tiêu xây dựng hệ thống dữ liệu đồng bộ từ vùng trồng, mã số xuất khẩu đến lưu thông hàng hóa; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số nhằm tăng hiệu quả quản lý, giảm gian lận thương mại và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.
Ngày 25/5/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức cuộc họp nhằm đánh giá tình hình triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản phục vụ quản lý sản xuất, xuất khẩu và minh bạch hóa chuỗi cung ứng. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng chủ trì cuộc họp.
Báo cáo tại cuộc họp, ông Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ hiện đã được vận hành thí điểm, trước mắt với mặt hàng sầu riêng và đang tiếp tục mở rộng sang nhiều loại nông sản khác.
Kết quả thí điểm cho thấy việc tổ chức sản xuất và lưu thông theo chuỗi dựa trên dữ liệu đã tạo ra hiệu quả rõ rệt. Đáng chú ý, một số lô hàng sầu riêng “luồng xanh” được tổ chức xuyên suốt từ vùng trồng, thu hái, đóng gói, vận chuyển đến thông quan chỉ trong 6 ngày, rút ngắn đáng kể so với thời gian trước đây từ 8 - 11 ngày, thậm chí có chuyến kéo dài tới 21 ngày.
Tính đến ngày 25/5/2026, hệ thống đã ghi nhận 1.396 dòng dữ liệu của 112 sản phẩm, kết nối với 17.987 cơ sở sản xuất tại 14 tỉnh, thành phố. Tham gia hệ thống hiện có 149 doanh nghiệp, 547 nông hộ, 255 vùng trồng và 919 lô hàng thông qua 4 đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ.
Khoảng 23.000 tem truy xuất nguồn gốc đã được dán lên sản phẩm; dữ liệu được cập nhật theo thời gian thực với sự tham gia đồng bộ của doanh nghiệp xuất khẩu, nông hộ, đơn vị công nghệ và cơ quan quản lý.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Long, quá trình triển khai vẫn còn nhiều khó khăn. Mức độ tham gia giữa các địa phương chưa đồng đều; dữ liệu còn phân tán, thiếu chuẩn hóa; cơ chế kết nối và chia sẻ dữ liệu chưa hoàn thiện. Hạ tầng kỹ thuật và nguồn lực đầu tư còn hạn chế, chủ yếu dựa vào hỗ trợ từ doanh nghiệp và các đơn vị công nghệ, gây khó khăn cho việc mở rộng trên phạm vi toàn quốc.
Để khắc phục những tồn tại này, Vụ Khoa học và Công nghệ đề xuất cần làm rõ trách nhiệm của địa phương trong từng khâu, đặc biệt là việc nhập liệu, cập nhật và xác thực thông tin trên hệ thống. Đồng thời, phạm vi triển khai cần tiếp tục được mở rộng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đủ điều kiện cùng tham gia thay vì chỉ dừng ở quy mô thí điểm.
Đồng tình với các đề xuất trên, ông Huỳnh Tấn Đạt, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh vai trò then chốt của công tác quản lý vùng trồng, cơ sở đóng gói và quy trình sản xuất.
Theo ông Đạt, thời gian tới Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật sẽ tiếp tục rà soát, hoàn thiện các tiêu chuẩn và quy chuẩn phù hợp với yêu cầu từng thị trường nhập khẩu; hướng dẫn doanh nghiệp tuân thủ đúng quy trình sản xuất và xuất khẩu; đồng thời phối hợp chặt chẽ với địa phương trong việc cấp mã số vùng trồng và kiểm soát chất lượng sản phẩm.
Bên cạnh đó, để bảo đảm tính đồng bộ trong toàn chuỗi, cơ quan chuyên ngành đề xuất quy định rõ tần suất kiểm tra, lấy mẫu và kiểm soát hàng hóa nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các thị trường nhập khẩu, qua đó nâng cao vai trò quản lý nhà nước và hỗ trợ địa phương triển khai truy xuất nguồn gốc theo hướng thực chất, hiệu quả và bền vững.
Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, Thứ trưởng Võ Văn Hưng khẳng định: "Truy xuất nguồn gốc không chỉ nhằm mục tiêu rút ngắn thời gian xử lý hay tạo thuận lợi cho thông quan, mà cốt lõi là kiểm soát chất lượng, bảo đảm an toàn và minh bạch sản phẩm nông sản. Việc cải cách thủ tục cần được thực hiện trên cơ sở tổ chức lại quy trình một cách khoa học, loại bỏ các khâu trung gian không cần thiết nhưng vẫn phải bảo đảm yêu cầu quản lý và tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu".
Thứ trưởng yêu cầu mọi giải pháp triển khai phải bám sát thực tiễn, tránh tạo thêm rào cản cho doanh nghiệp. Truy xuất nguồn gốc cần được xác định là công cụ quản lý hiệu quả, giúp cơ quan chức năng chủ động nắm bắt thông tin, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
Từ yêu cầu thực tiễn và bối cảnh hội nhập quốc tế, Thứ trưởng Võ Văn Hưng nhấn mạnh truy xuất nguồn gốc phải được đặt trong tổng thể phát triển nông nghiệp bền vững với ba trụ cột liên kết chặt chẽ. Trong đó, quy hoạch vùng nguyên liệu là nền tảng nhằm bảo đảm phát triển có định hướng, phù hợp điều kiện sinh thái và nhu cầu thị trường, khắc phục tình trạng mở rộng tự phát, thiếu kiểm soát.
Quản lý mã số vùng trồng là điều kiện bắt buộc để tham gia xuất khẩu chính ngạch, đòi hỏi việc cấp và giám sát phải chặt chẽ, gắn với trách nhiệm của địa phương và cơ quan chuyên ngành. Còn truy xuất nguồn gốc được xác định là công cụ minh bạch hóa toàn bộ chuỗi sản xuất. Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang được thúc đẩy theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngành nông nghiệp cần coi dữ liệu là nền tảng của quản trị hiện đại.
Thứ trưởng yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về vùng trồng, mã số xuất khẩu và truy xuất nguồn gốc theo hướng đồng bộ trên phạm vi toàn quốc. Đồng thời, cần đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ số như GIS, QR code, nhật ký điện tử, blockchain và IoT nhằm nâng cao tính minh bạch, giảm gian lận thương mại và tăng hiệu quả quản lý nhà nước.
Đối với các đơn vị, Thứ trưởng yêu cầu khẩn trương hoàn thiện quy trình, hệ thống và hướng dẫn triển khai; phân công rõ trách nhiệm giữa các cấp, các ngành; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá trong quá trình thực hiện để bảo đảm triển khai đồng bộ từ Trung ương tới địa phương.
Bất chấp bức tranh ảm đạm của thị trường dệt may toàn cầu với những con số sụt giảm kỷ lục từ các cường quốc nhập khẩu, 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu hợp nhất toàn Tập đoàn dệt may Việt Nam tăng 6,5% so cùng kỳ, hoàn thành 46% kế hoạch năm; lợi nhuận hợp nhất tăng 14,4% so cùng kỳ, hoàn thành 55% kế hoạch năm...
Khi lợi thế nhân công giá rẻ dần mất đi, Việt Nam cần chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn và sản xuất thông minh. Các chuyên gia Đức khẳng định: Thay đổi tư duy lãnh đạo và nâng chất nguồn nhân lực là "chìa khóa" để Việt Nam bứt phá trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Trong giai đoạn 2023 - 2025, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 23–24% mỗi năm.Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn, ngành rau quả cần quyết liệt tháo gỡ hai "điểm nghẽn" là sản xuất nhỏ lẻ thiếu chuẩn hóa và tỷ lệ chế biến sâu còn thấp so với tiềm năng...
Từ khâu chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển đến tiêu thụ, thịt gia cầm lưu thông trên toàn địa bàn TP.Hồ Chí Minh sẽ từng bước được nhận diện và truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ số. Mục tiêu nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu truy xuất minh bạch, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm và kiểm soát chất lượng sản phẩm...
Trong bối cảnh nguồn cung ứng và hạ tầng truyền tải phải vận hành chạm ngưỡng giới hạn, tiết kiệm điện không còn là khẩu hiệu mang tính phong trào hay giải pháp ứng phó tạm thời, mà đã trở thành một yêu cầu cấp bách, một "nguồn năng lượng" đặc biệt cần được khai thác một cách thường xuyên và đồng bộ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.