Mặc dù kết quả còn chưa được như kỳ vọng, nhưng kim ngạch thương mại hai chiều năm 2024 vẫn đạt khoảng 3,25 tỷ USD, trong đó xuất khẩu Việt Nam đạt xấp xỉ 800 triệu USD.
Ước tính cả năm 2025 trao đổi thương mại giữa hai nước có thể đạt trên 3,75 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu đạt khoảng từ 850 - 880 triệu USD, ước tăng khoảng trên 10% so với năm 2024.
Việt Nam đã và đang trở thành điểm đến hấp dẫn đối với nhiều nhà đầu tư, doanh nghiệp, thương nhân, người mua hàng, khách du lịch Israel. Nhiều đối tác Israel đã quan tâm tới thị trường và tích cực sang Việt Nam tìm kiếm đối tác, bạn hàng để mua hàng cũng như tìm kiếm cơ hội đầu tư để dịch chuyển các dự án đầu tư sang Việt Nam.
Israel hiện là đối tác thương mại lớn thứ ba, là thị trường xuất khẩu lớn thứ tư và cũng là thị trường nhập khẩu lớn thứ hai của Việt Nam tại Tây Á. Trong khi Việt Nam là một trong những đối thương mại lớn nhất của Israel ở khu vực Đông Nam Á.
Tại tọa đàm “Triển vọng từ Hiệp định VIFTA: Giải pháp tận dụng hiệu quả” ngày 4/12/2025, các ý kiến đều nhận định Việt Nam có nhiều cơ hội để khai thác thị trường Trung Đông này.
Bà Nguyễn Thị Lan Phương, Phó Trưởng phòng WTO và Đàm phán thương mại, Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương) cho biết Israel cam kết xóa bỏ thuế quan cho Việt Nam ngay khi hiệp định VIFTA có hiệu lực là trên 66,3% số dòng thuế, và sau lộ trình 3-5-7 năm hoặc 10 năm sẽ xóa bỏ thêm khoảng 26,4%. Như vậy, tổng mức tự do hóa tổng thể của các dòng thuế ở cuối lộ trình đạt khoảng 92,7% tổng số dòng thuế.
Ở chiều ngược lại, ngay khi hiệp định có hiệu lực, Việt Nam tự do hóa khoảng trên 30% số dòng thuế và sau lộ trình từ 3-5-7 năm sẽ giảm tiếp khoảng 51,6% cho phía bạn. Như vậy, tổng mức tự do hóa cuối lộ trình đối với các dòng thuế của Việt Nam đạt khoảng 85,7%.
Israel dành tự do hóa ưu đãi đối với rất nhiều mặt hàng Việt Nam có thế mạnh xuất khẩu và cả những mặt hàng chúng ta có kim ngạch xuất khẩu trên 1 triệu USD cũng sẽ được dành nhiều ưu đãi. Đơn cử như mặt hàng da giày hay dệt may, hàng điện tử, máy móc, trang thiết bị…
Nói đến sự khác biệt giữa VIFTA với các FTA khác, ông Lê Thái Hòa, Tham tán thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Israel chia sẻ, Israel đã ký 16 hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương với khoảng 48 đối tác trên thế giới như: EU, EFTA, Mercosur, Hoa Kỳ, Thổ Nhĩ Kỳ, Canada, Colombia, Mexico, Anh, Hàn Quốc, UAE, Việt Nam…
Ngoài ra, Israel cũng đang đàm phán một số FTA với các đối tác khác như Liên minh kinh tế Á Âu, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản. Mặc dù theo đuổi thực hiện tự do hóa thương mại qua các hiệp định thương mại tự do là động lực, công cụ quan trọng đối với mở rộng hợp tác kinh tế và các trường ngoại thương, nhưng Israel bảo hộ thị trường khá chặt chẽ, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp. Israel đàm phán các FTA khá linh hoạt nhưng cũng thận trọng và rắn chắc với lý do bảo vệ lợi ích cốt lõi của mình.
Bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, Ủy viên BCH Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA), nhận định: VIFTA đã mở ra một cơ hội rất lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và đặc biệt là khối doanh nghiệp ngành điện tử nói riêng cả về xuất khẩu hàng hóa, tiếp cận công nghệ và kết nối chuỗi cung ứng ở thị trường Israel. Tuy nhiên, thách thức với doanh nghiệp cũng khá nhiều.
Thứ nhất: Thị trường này có một yêu cầu khá nghiêm ngặt, khá cao về tiêu chuẩn hàng rào kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng, đặc biệt đối với doanh nghiệp điện tử, các doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngành khó có thể đáp ứng ngay lập tức.
Thứ hai: Quy tắc xuất xứ C/O và thủ tục chứng nhận để được hưởng ưu đãi thuế. Doanh nghiệp phải chứng minh xuất xứ phù hợp, nhiều doanh nghiệp chưa quen thực hiện quy trình, hồ sơ thủ tục và chi phí tuân thủ còn lớn.
Thứ ba: Chuỗi cung ứng nội địa của Việt Nam chưa đủ sâu để có thể cung cấp được những linh phụ kiện điện tử theo đúng yêu cầu của chuỗi cung ứng. Chi phí logistics cao, thời gian giao hàng nhất định; thủ tục hải quan cũng như giấy phép thanh toán đôi khi còn cản trở.
Thứ tư: Doanh nghiệp vẫn còn đang thiếu những thông tin thị trường chuyên sâu. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có thể tiếp cận các thông tin thị trường và khách hàng tiềm năng của Israel và đặc biệt là tiêu chuẩn cụ thể ngành hàng của Israel.
Để tận dụng tốt hơn nữa VIFTA, bà Phương cho rằng doanh nghiệp là người thụ hưởng trực tiếp các lợi ích của Hiệp định và chỉ có doanh nghiệp mới quyết định biến những lợi ích đó trở thành những lợi ích thực thụ của mình. Vì vậy, doanh nghiệp phải chủ động hơn trong việc nắm bắt các thông tin của Hiệp định, được công khai trên các trang thông tin điện tử của Bộ Công thương như cổng thông tin điện tử về các FTA của Chính phủ là fta.gov.vn.
Đại diện VEIA, bà Hương mong muốn các doanh nghiệp sẽ chủ động đưa ra những kiến nghị, khó khăn của mình, có thể thông qua hiệp hội ngành hàng, hoặc trực tiếp lên các cơ quan Chính phủ để tổng hợp và đưa ra những chiến lược trong quá trình triển khai.
Thông tin thêm, bà Phương cho biết hiện nay Chính phủ cũng đã thực hiện rất nhiều các công việc rà soát pháp luật để thực thi Hiệp định, đồng thời xây dựng nhiều chương trình, đề án để hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
“Nếu gặp khó khăn mà doanh nghiệp không nêu ra, thì không thể nào đưa vào những hoạt động cụ thể trong các chương trình, đề án đó được. Những ý kiến, phản hồi của doanh nghiệp là những đầu vào rất quan trọng để Chính phủ cụ thể hóa thành nội luật hay cụ thể hóa những đề án, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp được tốt hơn”, bà Hương nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, ông Phan Minh Thông, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Phúc Sinh, cho rằng vấn đề địa lý Israel khá xa cách, người Việt Nam thường đợi khách đến chứ không chủ động đi ra. Đây cũng là một rào cản. Để vượt qua rào cản, doanh nghiệp nên chủ động đến thăm, tham dự các hội chợ, tiếp cận với những hội chợ lớn trên thế giới mà người Israel cũng đến.
Mặt khác, Bộ Công Thương hay Đại sứ quán tổ chức các tour, các chuyến tham quan cho doanh nghiệp… nhằm kết nối doanh nghiệp hai đầu là rất quan trọng.
Bổ sung thêm, ông Hòa cho biết Israel là đất nước đặc trưng về tôn giáo và sắc tộc, cho nên những doanh nghiệp người Do Thái thường yêu cầu những chứng nhận về Kosher, còn những doanh nghiệp người Arab thường có xu hướng yêu cầu những chứng nhận về Halal đối với những mặt hàng nhất định.
Vì thế, doanh nghiệp cần tuân thủ các yêu cầu về tiêu chuẩn và quy định nhập khẩu Israel mới được ban hành như những chứng nhận tiêu chuẩn của EU và của Hoa Kỳ đã được Israel áp dụng trong cải cách nhập khẩu theo nguyên tắc “cái gì tốt cho EU, cái gì tốt cho Hoa Kỳ, thì cũng tốt cho Israel” và cũng như những chứng nhận Kosher hay chứng nhận Halal.
Một điểm nữa, ông Hòa lưu ý các doanh nghiệp, cần tích cực quan tâm đầu tư khai thác thị trường Israel. Chủ động sang khảo sát, tìm hiểu thị trường, tham dự các hội chợ, triển lãm, sự kiện xúc tiến thương mại, kết nối giao thương được tổ chức tại Israel để trực tiếp gặp gỡ bạn hàng, phát hiện ra nhu cầu hợp tác của nhau, qua đó góp phần thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường này.



Bất chấp bức tranh ảm đạm của thị trường dệt may toàn cầu với những con số sụt giảm kỷ lục từ các cường quốc nhập khẩu, 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu hợp nhất toàn Tập đoàn dệt may Việt Nam tăng 6,5% so cùng kỳ, hoàn thành 46% kế hoạch năm; lợi nhuận hợp nhất tăng 14,4% so cùng kỳ, hoàn thành 55% kế hoạch năm...
Khi lợi thế nhân công giá rẻ dần mất đi, Việt Nam cần chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn và sản xuất thông minh. Các chuyên gia Đức khẳng định: Thay đổi tư duy lãnh đạo và nâng chất nguồn nhân lực là "chìa khóa" để Việt Nam bứt phá trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Trong giai đoạn 2023 - 2025, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 23–24% mỗi năm.Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn, ngành rau quả cần quyết liệt tháo gỡ hai "điểm nghẽn" là sản xuất nhỏ lẻ thiếu chuẩn hóa và tỷ lệ chế biến sâu còn thấp so với tiềm năng...
Từ khâu chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển đến tiêu thụ, thịt gia cầm lưu thông trên toàn địa bàn TP.Hồ Chí Minh sẽ từng bước được nhận diện và truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ số. Mục tiêu nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu truy xuất minh bạch, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm và kiểm soát chất lượng sản phẩm...
Trong bối cảnh nguồn cung ứng và hạ tầng truyền tải phải vận hành chạm ngưỡng giới hạn, tiết kiệm điện không còn là khẩu hiệu mang tính phong trào hay giải pháp ứng phó tạm thời, mà đã trở thành một yêu cầu cấp bách, một "nguồn năng lượng" đặc biệt cần được khai thác một cách thường xuyên và đồng bộ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.