Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu nông lâm thủy sản trong 10 tháng năm 2021 đạt 74,31 tỷ USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 38,75 tỷ USD, tăng 13,1%; nhập khẩu 35,56 tỷ USD, tăng 39,1%. Như vậy, nông lâm thủy sản vẫn xuất siêu 3,19 tỷ USD.
Trong 10 tháng qua, nhiều nhóm sản phẩm có giá trị xuất khẩu tăng gồm: cà phê, cao su, gạo, nhóm hàng rau quả, hồ tiêu, hạt điều, sắn và sản phẩm từ sắn, sản phẩm chăn nuôi, tôm; sản phẩm gỗ; mây, tre, cói thảm; quế… Trong đó, xuất khẩu cao su tăng 13,9% về khối lượng và tăng 46,5% về giá trị; xuất khẩu hạt điều tăng 14,1% về khối lượng và tăng 13,5% về giá trị; xuất khẩu sắn và sản phẩm từ sắn tăng 7,7% về khối lượng và tăng 21,2% về giá trị.
Riêng hồ tiêu, dù khối lượng xuất khẩu giảm, chỉ được 232 nghìn tấn (giảm 5,7%) nhưng nhờ giá xuất khẩu bình quân tăng 52,9% nên kim ngạch xuất khẩu tăng tới 44,2%.
Với mặt hàng cà phê, khối lượng xuất khẩu giảm 5,1% nhưng giá trị vẫn tăng 4,1%.
Những mặt hàng khác tăng giá trị như: sản phẩm chăn nuôi tăng 6,1%, tôm tăng 0,1%; sản phẩm gỗ tăng 20,6%; nhóm mây, tre, cói thảm tăng 42,6%; quế tăng 14,5%. Mặt hàng giảm cả khối lượng và giá trị xuất khẩu dù giá xuất khẩu bình quân tăng là chè, giảm 7,2% về khối lượng và giảm 3,4% về giá trị.
Về thị trường xuất khẩu, giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 10 tháng đầu năm của Việt Nam tới các thị trường thuộc khu vực châu Á chiếm 42,8% thị phần; châu Mỹ chiếm 30,0% thị phần, châu Âu chiếm 11,4% thị phần, châu Phi chiếm 1,9% thị phần, châu Đại Dương (chiếm 1,5% thị phần).
Thị trường xuất khẩu lớn nhất của ngành hàng nông lâm thủy sản vẫn là Hoa Kỳ đạt trên 10,8 tỷ USD, chiếm 27,9% trong tổng thị phần; trong đó kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng gỗ và sản phẩm gỗ chiếm tới 68,4% tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam sang Mỹ.
Đứng thứ hai là thị trường Trung Quốc đạt gần 7,5 tỷ USD (chiếm 19,3% thị phần); với kim ngạch xuất khẩu nhóm rau quả chiếm tới 23,4% tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản vào Trung Quốc. Các vị trí tiếp theo lần lượt thuộc về: thị trường Nhật Bản đứng vị trí thứ 3 với giá trị xuất khẩu đạt trên 2,6 tỷ USD (chiếm 6,8%); thứ 4 là thị trường Hàn Quốc với giá trị đạt khoảng 1,7 tỷ USD (chiếm 4,3%).
Đặc biệt, sau những tháng giảm giá liên tiếp, giá gạo xuất khẩu đã tăng rất mạnh trong tháng 10/2021, từ 438 USD/tấn đã vọt lên 530 USD/tấn đối với gạo 5% tấm. Lý giải nguyên nhân giá gạo Việt tăng, một doanh nghiệp có trụ sở tại Long An cho biết, hiện vụ hè - thu đã thu hoạch hết trong khi Chính phủ đang tăng lượng dự trữ quốc gia, từ đó kéo giá cả trong nước và xuất khẩu tăng lên.
Không riêng gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng, gần đây giá gạo xuất khẩu của Thái Lan và Ấn Độ cũng tăng trở lại, do lũ lụt xảy ra ở một số quốc gia sản xuất gạo, đã ảnh hưởng đến nguồn cung mặt hàng này.
Hiện tại, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam đang tích cực khôi phục sản xuất trở lại để đáp ứng tiến độ giao hàng trong hai tháng cuối năm 2021 cũng như nhu cầu từ nhiều thị trường nhập khẩu lớn tại châu Á cho nhu cầu cuối năm.
Có thể thấy sau nhiều tháng trầm lắng vì căng thẳng dịch bệnh thì tới nay hoạt động thông thương của ngành gạo đã phần nào khởi sắc hơn. Điều này cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ bước vào giai đoạn cạnh tranh hơn với các đối thủ xuất khẩu khác.
Tuy vậy, theo chia sẻ của ông Phan Văn Có, Giám đốc Công ty TNHH Vrice, hiện giá gạo không phải là yếu tố cạnh tranh chính bởi vấn đề mà các đối tác nhập quan tâm chính là tiến độ và cam kết giao hàng của doanh nghiệp Việt.
Với việc hoạt động xuất khẩu gạo đang sôi động trở lại, Hiệp hội Lương thực Việt Nam vẫn kỳ vọng năm nay nước ta có thể xuất khẩu được 6-6,2 triệu tấn gạo các loại, với kim ngạch đạt khoảng 3,325 tỷ USD.
Ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản
Ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản
Bất chấp bức tranh ảm đạm của thị trường dệt may toàn cầu với những con số sụt giảm kỷ lục từ các cường quốc nhập khẩu, 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu hợp nhất toàn Tập đoàn dệt may Việt Nam tăng 6,5% so cùng kỳ, hoàn thành 46% kế hoạch năm; lợi nhuận hợp nhất tăng 14,4% so cùng kỳ, hoàn thành 55% kế hoạch năm...
Khi lợi thế nhân công giá rẻ dần mất đi, Việt Nam cần chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn và sản xuất thông minh. Các chuyên gia Đức khẳng định: Thay đổi tư duy lãnh đạo và nâng chất nguồn nhân lực là "chìa khóa" để Việt Nam bứt phá trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Trong giai đoạn 2023 - 2025, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 23–24% mỗi năm.Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn, ngành rau quả cần quyết liệt tháo gỡ hai "điểm nghẽn" là sản xuất nhỏ lẻ thiếu chuẩn hóa và tỷ lệ chế biến sâu còn thấp so với tiềm năng...
Từ khâu chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển đến tiêu thụ, thịt gia cầm lưu thông trên toàn địa bàn TP.Hồ Chí Minh sẽ từng bước được nhận diện và truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ số. Mục tiêu nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu truy xuất minh bạch, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm và kiểm soát chất lượng sản phẩm...
Trong bối cảnh nguồn cung ứng và hạ tầng truyền tải phải vận hành chạm ngưỡng giới hạn, tiết kiệm điện không còn là khẩu hiệu mang tính phong trào hay giải pháp ứng phó tạm thời, mà đã trở thành một yêu cầu cấp bách, một "nguồn năng lượng" đặc biệt cần được khai thác một cách thường xuyên và đồng bộ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.