Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 10, ngày 11/12, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản với đa số đại biểu có mặt tán thành.
Trước khi Quốc hội thông qua, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản. Theo đó, Chính phủ đã tiếp thu và phối hợp với các cơ quan có liên quan rà soát, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo về các vấn đề bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, quy định đầy đủ các trường hợp chuyển tiếp và một số vấn đề cụ thể khác.
Tiếp thu ý kiến yêu cầu làm rõ hơn quy định cho phép tổ chức, cá nhân lấy mẫu khoáng sản để nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ chế biến, Chính phủ cho biết dự thảo Luật đã bổ sung nguyên tắc cho phép lấy mẫu và giao Chính phủ quy định chi tiết.
Trong dự thảo nghị định sửa đổi Nghị định 193/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và khoáng sản, cơ quan soạn thảo đã bổ sung Mục 11 vào Chương IV, gồm Điều 100a và 100b, quy định cụ thể hồ sơ, thủ tục, điều kiện lấy mẫu; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân thực hiện; trách nhiệm của cơ quan quản lý. Quy định hướng tới bảo đảm việc lấy mẫu không ảnh hưởng quyền của đơn vị đang khai thác hợp pháp.
Liên quan ý kiến đề nghị nêu rõ căn cứ và tính khả thi của việc bổ sung khoản 4 vào Điều 205 Luật Đất đai, Chính phủ cho biết dự thảo Luật đã luật hóa một số nội dung tại Nghị quyết 66.4/2025/NQ-CP. Trong đó có quy định tháo gỡ thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với khai thác khoáng sản nhóm III, nhóm IV để phục vụ các dự án đầu tư công, PPP, dự án trọng điểm, công trình phòng chống thiên tai…
Khoáng sản nhóm này chủ yếu gồm đất san lấp, đá, cát, sỏi… với thời gian khai thác ngắn. Nếu thực hiện đầy đủ quy trình thu hồi và giao đất sẽ kéo dài thời gian, ảnh hưởng tiến độ dự án. Việc cho phép cho thuê lại quyền sử dụng đất để thăm dò, khai thác phù hợp khoản 1 Điều 27 Luật Đất đai.
Quy định chỉ áp dụng với đất nông nghiệp là rừng sản xuất là rừng trồng, đất phi nông nghiệp (trừ đất quốc phòng, an ninh) và bảo đảm không làm mất điều kiện sử dụng đất vào mục đích chính. Chính phủ đề nghị giữ nguyên quy định tại Điều 2 dự thảo Luật.
Đối với khoản 5 về giấy phép đã cấp nhưng không phù hợp tiêu chí không đấu giá, Chính phủ khẳng định sai sót thuộc về cơ quan cấp phép, không phải tổ chức được cấp giấy phép. Vì vậy, để bảo đảm quyền lợi hợp pháp và bảo đảm nguồn vật liệu xây dựng cho các dự án tại điểm a, b, c, d, đ khoản 1a Điều 55, các giấy phép này vẫn tiếp tục được thực hiện với hai điều kiện: khoáng sản khai thác chỉ cung cấp cho các dự án nêu trên; giấy phép phải phù hợp quy hoạch tỉnh. Điểm c khoản 5 quy định rõ: tổ chức, cá nhân có vi phạm vẫn bị xử lý theo pháp luật.
Về ý kiến đề nghị cân nhắc, quy định chặt chẽ nội dung “và không phải đấu giá quyền khai thác khoáng sản” quy định tại khoản 6, Chính phủ xin cho biết trước khi Luật này có hiệu lực, một số dự án đầu tư chế biến hoặc sử dụng khoáng sản đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật; nhà đầu tư đã thực hiện các thủ tục đầu tư theo quy định.
Trường hợp các dự án đầu tư này đã được xác định các khu vực khoáng sản làm nguồn nguyên liệu phục vụ cho dự án thì cần có quy định chuyển tiếp như quy định tại khoản 6 Điều 4 của dự thảo Luật để bảo đảm dự án có thể hoạt động được. Quy định này cũng phù hợp với quy định tại khoản 26 Điều 1 của dự thảo Luật (sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 100 của Luật Địa chất và khoáng sản).
Đáng chú ý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản đã bổ sung quy định về chính sách chung của nhà nước đối với đất hiếm; Quy hoạch khoáng sản, chiến lược quốc gia về đất hiếm; dự trữ bảo vệ đất hiếm; thăm dò, khai thác khoáng sản quan trọng này.
Luật quy định rõ: Đất hiếm là khoáng sản chiến lược đặc biệt. Hoạt động điều tra, đánh giá, thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng đất hiếm phải tuân thủ chiến lược quốc gia về đất hiếm, quy hoạch về đất hiếm. Đất hiếm phải được bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả gắn với yêu cầu phát triển bền vững kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước.
Nhà nước khuyến khích hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, chuyển giao, phát triển công nghệ khai thác, tuyển, tách, chế biến sâu đất hiếm phục vụ phát triển ngành công nghiệp đất hiếm trong nước; hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, kỹ thuật và công nghệ trong chuỗi hoạt động điều tra địa chất, đánh giá, thăm dò, khai thác, chế biến sâu đất hiếm, ứng dụng và quản lý đất hiếm.
Nhà nước ưu tiên đầu tư và tổ chức thực hiện điều tra địa chất, đánh giá, thăm dò đất hiếm. Việc thăm dò, khai thác, chế biến đất hiếm phải được kiểm soát chặt chẽ, không xuất khẩu thô khoáng sản đất hiếm; chỉ các doanh nghiệp, tổ chức được Nhà nước chỉ định hoặc cho phép mới được quyền thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng đất hiếm.
Đồng thời, hoạt động chế biến sâu đất hiếm phải gắn với xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hiện đại để nâng cao chuỗi giá trị trong nước, bảo đảm tự chủ trong thực hiện chiến lược quốc gia về đất hiếm.
Thông tin, dữ liệu địa chất, khoáng sản đất hiếm phải được xây dựng đồng bộ, quản lý tập trung, thống nhất và được khai thác, sử dụng có hiệu quả.
Cũng theo luật này, Nhà nước khuyến khích hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, chuyển giao, phát triển công nghệ khai thác, tuyển, tách, chế biến sâu đất hiếm phục vụ phát triển ngành công nghiệp đất hiếm trong nước; hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, kỹ thuật và công nghệ trong chuỗi hoạt động điều tra địa chất, đánh giá, thăm dò, khai thác, chế biến sâu đất hiếm, ứng dụng và quản lý đất hiếm.
Cùng với đó, Nhà nước có chính sách dự trữ và bảo vệ đất hiếm, điều tiết hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu đất hiếm trong từng thời kỳ phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh tài nguyên.
Về thăm dò, khai thác khoáng sản đất hiếm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức thực hiện thăm dò khoáng sản đối với một số khu vực có khoáng sản đất hiếm bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp giấy phép thăm dò khoáng sản đất hiếm sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, trừ trường hợp quy định trên. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp giấy phép khai thác khoáng sản đất hiếm sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận. Theo quy định của luật, Chính phủ quy định chi tiết Điều này.



Các cơ chế quốc tế như cơ chế toàn cầu về bù đắp và giảm thiểu carbon trong lĩnh vực hàng không quốc tế (CORSIA) của ICAO, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh Châu Âu cùng các yêu cầu về phát thải trong chuỗi cung ứng đang tạo ra áp lực ngày càng lớn đối với các quốc gia xuất khẩu, trong đó có Việt Nam...
Brussels đang tiến hành cấm sử dụng nguồn tài trợ của Liên minh châu Âu (EU) cho các dự án năng lượng sạch có sử dụng biến tần (inverter) cho điện mặt trời và hệ thống lưu trữ pin đến từ các “quốc gia có rủi ro cao”, mà chủ yếu là Trung Quốc. Theo đó, các nhà phát triển dự án sẽ phải chuyển sang sử dụng các giải pháp thay thế từ châu Âu, nhưng điều này có thể khiến hóa đơn năng lượng và chi phí sản xuất tại châu Âu tăng lên.
Khi nhu cầu điện tăng mạnh dưới tác động của AI, trung tâm dữ liệu và xu hướng điện khí hóa, việc bảo đảm độ tin cậy của hệ thống thông qua các giải pháp đo lường, kiểm định và giám sát kỹ thuật đang trở thành yếu tố then chốt của quá trình chuyển dịch năng lượng...
Việt Nam cùng đại diện các quốc gia thành viên Thỏa thuận Paris đang họp tại Đức để thảo luận nhiều vấn đề về thực hiện mục tiêu khí hậu toàn cầu...
Từ nguồn gỗ rừng trồng tại Gia Lai, viên nén đen đang trở thành sản phẩm giá trị gia tăng cao, góp phần thúc đẩy chuyển đổi xanh và nâng tầm ngành lâm sản địa phương...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.