Tại hội thảo “Tư vấn hỗ trợ xúc tiến thương mại sản phẩm thủ công mỹ nghệ cho các doanh nghiệp, cơ sở công nghiệp nông thôn”, tổ chức ngày 11/12/2025 ở Ninh Bình, Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đã chỉ ra những điểm nghẽn lâu nay của ngành và đề xuất nhiều giải pháp đột phá.
Phát biểu khai mạc, ông Trịnh Quốc Đạt, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, nhấn mạnh: xúc tiến thương mại là then chốt giúp sản phẩm OCOP và sản phẩm làng nghề mở rộng thị trường. Tuy nhiên, nhiều cơ sở vẫn xem nhẹ việc xây dựng thương hiệu, chưa chú trọng thiết kế logo, bao bì, website hay đăng ký bảo hộ. Trong khi đó, sản phẩm thủ công mỹ nghệ cần được cải tiến thường xuyên, thích ứng thị hiếu trong nước và quốc tế, vẫn giữ bản sắc văn hoá nhưng mang hơi thở hiện đại.
Từ góc độ thực tiễn làng nghề, TS Tôn Gia Hóa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam nêu thực trạng: cả nước có 168 nghề truyền thống và hơn 5.400 làng nghề, nhưng gần 50 làng nghề đã ngừng hoặc gần như không còn hoạt động. Mô hình sản xuất vẫn chủ yếu dựa vào hộ gia đình (98%), quy mô nhỏ, thiếu lao động kỹ thuật; 70% chủ cơ sở chưa qua đào tạo bài bản. Thu nhập lao động chỉ 3,5 – 4,5 triệu đồng/tháng, không đủ hấp dẫn người trẻ quay lại làng nghề.
Bên cạnh đó, nguyên liệu sản xuất suy giảm do khai thác thiếu quy hoạch; hạ tầng lạc hậu, thiếu điểm trưng bày, bãi đỗ xe hay các thiết chế phục vụ du lịch làng nghề. Nhiều cơ sở không có vốn mở rộng, không đủ điều kiện tham gia cụm công nghiệp làng nghề.
Hoạt động xúc tiến thương mại vẫn yếu. Hội chợ trong nước thiếu tính chuyên nghiệp, chưa có phân khúc khách hàng rõ ràng; còn hội chợ quốc tế chi phí quá cao, khiến doanh nghiệp nhỏ không thể tham gia. Không ít làng nghề chưa có thương hiệu riêng và chưa kết hợp tốt với du lịch".
Từ góc độ nghiên cứu, TS Nguyễn Thị Thu Hường (Đại học Mở Hà Nội) nhấn mạnh: thiết kế là hạn chế lớn nhất của ngành thủ công mỹ nghệ. Mẫu mã còn đơn điệu, ít đổi mới, phần lớn làm theo đơn đặt hàng nên thiếu tính thương mại. Điều này khiến sản phẩm khó bắt kịp xu hướng tiêu dùng và khó nâng cao giá trị gia tăng.
Đa số doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ có quy mô nhỏ, thiếu năng lực quản lý, thiếu bộ phận marketing và nghiên cứu thị trường. Lao động thiếu kỹ năng số, kỹ năng thiết kế, kỹ năng quảng bá trên thương mại điện tử, dẫn tới hạn chế trong xây dựng thương hiệu và tiếp cận thị trường quốc tế. Quy hoạch vùng nguyên liệu chưa hiệu quả, ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ trong các FTA là những yếu tố ngày càng quan trọng khi thị trường toàn cầu chuyển sang tiêu dùng xanh.
Dù Nhà nước đã có chính sách hỗ trợ từ ưu đãi thuế, đào tạo đến xúc tiến thương mại, nhưng kết quả vẫn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp nhỏ không đáp ứng được yêu cầu hồ sơ, chứng từ và quy tắc xuất xứ phức tạp.
TS Nguyễn Thị Thu Hường cho biết thị trường xuất khẩu thủ công mỹ nghệ đang tăng trưởng mạnh: từ 2,23 tỷ USD năm 2019 lên gần 4 tỷ USD năm 2024 và dự kiến đạt 4,5- 4,7 tỷ USD năm 2025.
Tuy nhiên, để nhanh đạt mục tiêu 5 tỷ USD, ngành phải gia tăng tỷ trọng sản phẩm có giá trị cao dựa trên thiết kế và thương hiệu. Việc phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Hoa Kỳ và EU cũng tiềm ẩn rủi ro, đòi hỏi đa dạng hóa thị trường và đáp ứng bộ tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn số ngày càng khắt khe.
PGS.TS Đặng Mai Anh, Quyền Hiệu trưởng Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp, nhận định: sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực về tính thẩm mỹ và giá trị văn hóa – nghệ thuật.
Tuy nhiên, giai đoạn 2024-2028 sẽ là thời kỳ cạnh tranh khốc liệt đối với ngành hàng thủ công mỹ nghệ trên quy mô toàn cầu. Ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam muốn tận dụng cơ hội phải đầu tư vào công nghệ, nâng cao chất lượng, ứng dụng nền tảng số để mở rộng thị trường.
Từ thực tế trên, PGS.TS Đặng Mai Anh đề xuất tăng cường kết nối nghệ nhân với người tiêu dùng toàn cầu, phát triển thương hiệu làng nghề gắn với văn hóa và du lịch, đồng thời mở rộng xuất khẩu thông qua thương mại điện tử xuyên biên giới. Đây là xu hướng mà nhiều quốc gia đã nắm bắt và Việt Nam cần nhanh chóng tham gia để giữ lợi thế.
Trong hoàn thiện chính sách đến năm 2030, nhiều chuyên gia nhấn mạnh cần đẩy mạnh số hóa: xây dựng nền tảng thương mại điện tử quốc gia cho sản phẩm thủ công mỹ nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sàn quốc tế, phát triển showroom ảo 3D/VR, kết nối B2B – B2C xuyên biên giới. Đồng thời, cần phát triển trung tâm hỗ trợ thiết kế, tăng đào tạo kỹ năng số, hỗ trợ đăng ký sở hữu trí tuệ, đơn giản hóa thủ tục thuế – hải quan và quy hoạch vùng nguyên liệu gắn với chứng nhận bền vững.
Nga là thị trường giàu tiềm năng: năm 2024, thị trường nội thất ước đạt 7,28 tỷ USD; phân khúc nội thất gia đình chiếm 63,4%. Ngành gỗ - nội thất Nga đạt 75,7 triệu đơn vị sản phẩm, song vẫn chưa đáp ứng nhu cầu đa dạng về nội thất gỗ, đồ trang trí và mỹ nghệ. Người tiêu dùng ưa chuộng sản phẩm bền, tinh xảo, có tính nghệ thuật đúng lợi thế của hàng thủ công Việt Nam.
Tại hội thảo, đại diện Tập đoàn Incentra giới thiệu Trung tâm Xúc tiến Thương mại Hà Nội – Matxcơva (HC Center) như một kênh cầu nối hiệu quả giữa doanh nghiệp Việt Nam và thị trường Nga. Với mô hình showroom - kho - logistics -văn phòng trọn gói, HC Center giúp doanh nghiệp trưng bày sản phẩm tại Matxcơva, kết nối với nhà nhập khẩu, nhà phân phối, hỗ trợ thủ tục hải quan, kho vận, marketing, tạo thuận lợi cho hàng Việt tiếp cận thị trường Nga và khu vực Âu - Á.
HC Center hỗ trợ doanh nghiệp Việt qua bốn nhóm dịch vụ: trưng bày sản phẩm lâu dài; logistics, xuất nhập khẩu; kết nối B2B với nhà nhập khẩu và hệ thống bán lẻ; hỗ trợ marketing và thiết kế bao bì phù hợp thị hiếu Nga.
Incentra đề xuất mở rộng trưng bày dài hạn sản phẩm thủ công - nội thất Việt tại Matxcơva; tổ chức đoàn doanh nghiệp khảo sát thị trường; chuẩn hóa tem nhãn và bao bì; phát triển hệ thống phân phối tại Nga, Đông Âu; đồng thời đào tạo kỹ năng xuất khẩu cho doanh nghiệp nhỏ và hợp tác xã.
Thị trường Nga, với sự hỗ trợ của HC Center, được xem là hướng mở triển vọng giúp hàng thủ công mỹ nghệ và đồ gỗ Việt Nam vươn ra quốc tế. Với cam kết đồng hành từ Incentra và sự vào cuộc của các cơ quan, doanh nghiệp, hàng thủ công Việt hoàn toàn có thể chinh phục nhiều thị trường mới, gia tăng kim ngạch xuất khẩu và khẳng định vị thế ngành nghề truyền thống trên bản đồ thương mại toàn cầu.



Bất chấp bức tranh ảm đạm của thị trường dệt may toàn cầu với những con số sụt giảm kỷ lục từ các cường quốc nhập khẩu, 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu hợp nhất toàn Tập đoàn dệt may Việt Nam tăng 6,5% so cùng kỳ, hoàn thành 46% kế hoạch năm; lợi nhuận hợp nhất tăng 14,4% so cùng kỳ, hoàn thành 55% kế hoạch năm...
Khi lợi thế nhân công giá rẻ dần mất đi, Việt Nam cần chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn và sản xuất thông minh. Các chuyên gia Đức khẳng định: Thay đổi tư duy lãnh đạo và nâng chất nguồn nhân lực là "chìa khóa" để Việt Nam bứt phá trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Trong giai đoạn 2023 - 2025, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 23–24% mỗi năm.Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn, ngành rau quả cần quyết liệt tháo gỡ hai "điểm nghẽn" là sản xuất nhỏ lẻ thiếu chuẩn hóa và tỷ lệ chế biến sâu còn thấp so với tiềm năng...
Từ khâu chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển đến tiêu thụ, thịt gia cầm lưu thông trên toàn địa bàn TP.Hồ Chí Minh sẽ từng bước được nhận diện và truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ số. Mục tiêu nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu truy xuất minh bạch, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm và kiểm soát chất lượng sản phẩm...
Trong bối cảnh nguồn cung ứng và hạ tầng truyền tải phải vận hành chạm ngưỡng giới hạn, tiết kiệm điện không còn là khẩu hiệu mang tính phong trào hay giải pháp ứng phó tạm thời, mà đã trở thành một yêu cầu cấp bách, một "nguồn năng lượng" đặc biệt cần được khai thác một cách thường xuyên và đồng bộ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng bán lẻ hiện đại. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tích hợp vào toàn bộ chuỗi giá trị.