
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vừa có buổi làm việc với Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) về tình hình cung cấp than cho sản xuất điện năm 2021 và chuẩn bị kế hoạch cung cấp than cho nhà máy nhiệt điện của EVN năm 2022.
Số liệu của EVN cho thấy từ đầu năm tới nay, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên diễn biến nhu cầu phụ tải trên hệ thống điện biến động mạnh và khó dự báo. Điện sản xuất toàn hệ thống 11 tháng năm 2021 đạt 235 tỷ kWh, tăng trưởng 4,21% so với cùng kỳ năm 2020 và thấp hơn gần 5 tỷ kWh so với kế hoạch được Bộ Công Thương phê duyệt.
Trong đó, mặc dù nhu cầu điện trong các tháng 4, 5, 6 tăng trưởng ở mức rất cao nhưng tiêu thụ điện lại giảm mạnh kể từ khi thực hiện giãn cách xã hội tại nhiều tỉnh/thành phố.
Theo tình hình chung, nhu cầu huy động các nhà máy điện nói chung và các nhà máy nhiệt điên than nói riêng cũng phải điều chỉnh giảm trong các tháng cuối năm. Trong đó, các nhà máy nhiệt điện than sử dụng than nhập khẩu bị ảnh hưởng nhiều hơn các nhà máy sử dụng than trong nước.
Do nhu cầu sử dụng điện giảm so với kế hoạch nên việc sử dụng than cũng giảm theo. Lũy kế đến tháng 11/2021, các nhà máy của EVN đã tiếp nhận 14,48 triệu tấn than do TKV cung cấp, bằng 80,04% so với tổng khối lượng hợp đồng năm 2021.
Dự kiến đến hết năm 2021, tổng khối lượng than các nhà máy của EVN nhận từ TKV là 16,19 triệu tấn, đạt 88,69% tổng khối lượng hợp đồng năm 2021.
Nhiều nhà máy nhiệt điện than có tỷ lệ tiêu thụ than thấp so với hợp đồng đã ký là: Quảng Ninh đạt 84,24%, Duyên Hải 1 đạt 77,56%, Phả Lại đạt 54,22%, Mông Dương 1 đạt 92,74%. Hầu hết các nhà máy không thực hiện được theo khối lượng hợp đồng đã ký do nhu cầu tiêu thụ điện giảm mạnh dẫn đến huy động các nhà máy giảm từ tháng 7/2021 tới nay.
Theo đánh giá của EVN, tình hình cung cấp than của TKV trong năm 2021 là tương đối ổn định, đáp ứng nhu cầu vận hành của các nhà máy nhiệt điện của EVN.
Để đảm bảo than cho sản xuất điện năm 2022, các đơn vị của EVN đã triển khai đàm phán hợp đồng cung cấp than với TKV từ tháng 10/2021. Tổng khối lượng than dự kiến của các nhà máy ký với TKV là 18,08 triệu tấn, thấp hơn khối lượng hợp đồng than dài hạn đã ký của các nhà máy 1,12 triệu tấn.
EVN nhận định do phụ tải năm 2022 rất khó dự báo, khả năng nhu cầu than các nhà máy nhiệt điên, đặc biệt là khu vực phía Nam sẽ có biến động lớn, nên cần có cơ chế linh hoạt, điều chuyển than giữa các nhà máy, hoặc mở rộng dải điều chỉnh khối lượng hợp để phù hợp với nhu cầu thực tế của các nhà máy.
Theo đề nghị của TKV, do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, giá than trên thế giới tăng cao nên việc nhập khẩu than cũng gặp thách thức, vì vậy EVN cần sớm đưa ra kế hoạch cụ thể, chi tiết về nhu cầu than cho sản xuất điện để TKV xây dựng kế hoạch điều hành, tránh tình trạng tồn kho than như năm 2021.
EVN cho biết để điều hành đảm bảo cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia năm 2022, EVN đã xây dựng kế hoạch chi tiết với nhiều kịch bản, trong đó có kịch bản huy động nguồn nhiệt điện than. Đồng thời, EVN yêu cầu các đơn vị thuộc Tập đoàn sớm ký hợp đồng mua bán than với TKV để các đơn vị thuộc TKV có kế hoạch cung cấp than cho điện, sẵn sàng để hệ thống điện sẽ huy động cao nguồn điện than vào đầu năm 2022 khi nền kinh tế phục hồi.
Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.