Tại hội thảo về vấn đề nợ công do Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội tổ chức, TS. Benedict Bingham, đại diện thường trú của IMF tại Việt Nam, cho rằng khi giám sát về nợ công, Quốc hội nên tính tới cả những khoản nợ mà Chính phủ không bảo lãnh.
Xung quanh chủ đề này, VnEconomy đã có cuộc trò chuyện bên lề hội thảo với TS. Phùng Quốc Hiển, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội.
Thưa ông, hiện tại báo cáo của Chính phủ về nợ cũng mới chỉ có nợ của Chính phủ, của chính quyền địa phương và nợ do Chính phủ bảo lãnh, chứ chưa tính các khoản nợ mà doanh nghiệp vay riêng?
Trong báo cáo hàng năm trước Quốc hội, Chính phủ luôn có báo cáo về vấn đề nợ, trong đó có báo cáo nợ Chính phủ. Nhưng lần này, Chính phủ phải có báo cáo nợ công như thế nào, không chỉ là nợ của một năm mà là nợ 3 năm, 5 năm, tức phải có kế hoạch tài chính trung hạn.
Riêng về nợ công thì đầu tiên phải đi từ định nghĩa. Luật Quản lý nợ công của chúng ta quy định ba loại: một là nợ của Chính phủ, hai là nợ của chính quyền địa phương, ba là nợ do Chính phủ bảo lãnh và Chính phủ phải chịu trách nhiệm về chuyện đó.
Còn các khoản nợ khác ví dụ như các khoản nợ riêng của doanh nghiệp, không do Chính phủ bảo lãnh thì đó là khoản nợ nói ngầm thì không phải, mà là chúng ta không quán xuyến được.
Ví như phát hành trái phiếu công ty chẳng hạn, khoản đó Chính phủ không bảo lãnh. Hoặc như khoản vay nước ngoài mấy trăm triệu USD mà Vinashin tự vay không thuộc bảo lãnh của Chính phủ thì đều không thuộc khái niệm nợ quốc gia, nợ Chính phủ. Nhưng các chuyên gia cảnh báo đó là nợ ngầm, tức là rất nhiều doanh nghiệp tự đi vay nợ trong và ngoài nước, không chỉ là doanh nghiệp nhà nước mà cả doanh nghiệp tư nhân.
Ngoài ra, còn những khoản nợ không chỉ là nợ trái phiếu mà còn nợ qua hệ thống các ngân hàng, cũng cần lưu ý.
Thưa ông, Ủy ban Tài chính - Ngân sách có nắm được số nợ nằm ngoài phạm vi quản lý nợ công như ông đề cập ở trên là bao nhiêu không?
Chúng ta có thể tính toán được, bởi vì những khoản nợ đã qua ngân hàng thì nắm được. Rồi những khoản nợ các doanh nghiệp đi vay nước ngoài bao giờ cũng phải qua ngân hàng Nhà nước chúng ta cũng có thể biết. Còn tỷ trọng là bao nhiêu thì hôm nay chưa thể khẳng định. Hiện Ủy ban đang yêu cầu Ngân hàng Nhà nước báo cáo tại phiên họp sắp tới đây.
Vậy theo ông, những khoản nợ như vậy ở Việt Nam có thực sự đáng lo hay không?
Cái đó đáng lo đấy. Cảnh báo của chuyên gia IMF tôi cho là đúng đắn.
Vì những khoản nợ được Chính phủ bảo lãnh, tức là đã có nguồn lực để bảo lãnh và có thể tính được khoản nợ đó vì Chính bảo lãnh thì phải tính được khoản nợ là bao nhiêu. Nhưng, có những khoản nợ mà Chính phủ không nắm được mà cuối cùng khoản vay đó lại sử dụng không hiệu quả, dẫn tới vỡ nợ thì quy luật tài chính nó như bình thông nhau, khi một lĩnh vực đã bị khủng hoảng thì sẽ tác động đến nhau theo hiệu ứng domino.
Ví như tư nhân vay nhưng không có khả năng trả nợ thì đầu tiên nếu họ vay ngân hàng, dẫn tới ngân hàng mất khả năng thanh toán vì không thể thu hồi nợ để trả nợ được. Mà ngân hàng mất khả năng thanh toán sẽ dẫn tới các định chế tài chính khác gặp khó khăn. Cho nên, thậm chí nếu chúng ta không quản lý tốt lĩnh vực tư nhân và khống chế tốc độ cho vay cũng như dư nợ của ngân hàng thì không chỉ ảnh hưởng tới lĩnh vực đó mà tác động lên tất cả một cách gián tiếp.
Bên cạnh đó, rất nhiều người dân góp vốn thông qua hệ thống chứng khoán, khi thị trường chứng khoán có vấn đề gì hoặc các doanh nghiệp hạch toán có vấn đề gì không minh bạch thì cũng sẽ tác động.
Chúng ta vẫn xem thị trường chứng khoán là hơi thở của nền kinh tế. Nhưng có một điều là với 400 - 500 công ty trên sàn thì vốn cũng chỉ chiếm một số lượng rất nhỏ so với toàn bộ nền kinh tế nên cũng chưa ảnh hưởng gì nhiều.
Thưa ông, tại hội thảo này, phân tích của các chuyên gia nước ngoài có cho thấy ở nhiều nước, các chỉ tiêu đánh giá ngưỡng an toàn nợ công khác với Việt Nam?
Trong Luật Quản lý nợ công của Việt Nam có quy định Quốc hội quyết định đến chỉ tiêu an toàn nợ, ví như nợ công so với GDP, nợ công so với ngân sách, nợ công so với mức độ xuất khẩu của chúng ta.
Ở đây, các chuyên gia cảnh báo chúng ta đừng có quá vin vào các tiêu chí đó, vì thậm chí có nhiều quốc gia hiện nay có ngưỡng an toàn rất tốt như Argentina, Ucraina..., nhưng vẫn xảy ra khủng hoảng. Bởi gốc rễ là nằm ở cơ cấu nợ, là nợ dài hạn hay ngắn hạn. Nếu mà dài hạn thì tạm gọi là ổn định, còn nếu ngắn hạn, phải trả ngay thì vẫn có thể khủng hoảng ngay, mặc dù nợ trên GDP rất thấp. Hoặc là, dư nợ của anh thấp nhưng hiệu quả đầu tư lại cao.
Đồng tình với nhiều cảnh báo của chuyên gia, trong hoạt động giám sát tới đây, Ủy ban Tài chính - Ngân sách sẽ làm gì để góp phần tránh những nguy cơ rủi ro về nợ công?
Hội thảo hôm nay giúp cho Ủy ban có thêm góc nhìn về lý luận mà các chuyên gia tài chính thế giới đã đưa đến trong giám sát nợ công. Tại kỳ họp cuối năm nay, chúng tôi sẽ có báo cáo giám sát trước Quốc hội về nội dung này cùng với việc sử dụng trái phiếu Chính phủ, báo cáo giám sát 6 năm thực hiện Luật Ngân sách Nhà nước…
Thế còn cơ chế giám sát nợ nằm ngoài phạm vi quản lý, thưa ông?
Cơ chế giám sát nợ thì đã có trong luật, Luật Quản lý nợ công của Việt Nam đã quy định rất rõ là giao Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội phải giám sát, trong đó Ủy ban chúng tôi chính là cơ quan phải thực hiện chức năng này.
Theo ngưỡng an toàn của chúng ta thì năm nay và 2011, chúng ta vẫn nằm trong ngưỡng an toàn, đấy là điều khẳng định. Song, nếu như chúng ta không có biện pháp trung hạn, cơ cấu lại các khoản nợ, giảm dần các khoản nợ, đầu tư phải có hiệu quả và tích cực hơn thì câu chuyện chúng ta vượt ngưỡng an toàn nợ sẽ xảy ra trong tương lai.




Cơ quan thuế cảnh báo tình trạng gian lận hoàn thuế đang gia tăng trên môi trường số với nhiều thủ đoạn tinh vi, lợi dụng đặc tính ẩn danh và xuyên biên giới của thương mại điện tử. Qua công tác giám sát, 5 kịch bản gian lận được chỉ rõ, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải siết chặt quản lý và tăng cường kết nối dữ liệu liên ngành…
Bộ Tài chính đề xuất phân chia người nộp thuế thành ba nhóm theo mức độ tuân thủ và rủi ro, nhằm phục vụ quản lý thuế dựa trên dữ liệu. Cơ chế này giúp xác định mức độ ưu tiên, phân bổ nguồn lực phù hợp và áp dụng biện pháp quản lý tương ứng với từng nhóm, qua đó nâng cao hiệu quả giám sát và hỗ trợ người nộp thuế…
Trước những thông tin bác bỏ quy định ngân hàng phải cung cấp thông tin tài khoản người nộp thuế, Cục Thuế khẳng định nội dung này vẫn được giữ nguyên. Điều này nhằm tăng cường hiệu quả quản lý, đồng thời bảo đảm tuân thủ pháp luật về thuế và phòng ngừa rủi ro thất thu ngân sách...
Tình hình thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận mức tăng trưởng vô cùng khả quan. Theo báo cáo mới nhất từ Ủy ban nhân dân tỉnh, tổng thu ngân sách toàn tỉnh ước đạt 26.499,2 tỷ đồng, tăng trưởng 12,6% so với cùng kỳ năm trước và đã xuất sắc hoàn thành 51,3% dự toán năm được giao.
Thông tư 58/2026/TT-BTC mở ra hướng quản lý kế toán nhẹ nhàng hơn cho doanh nghiệp siêu nhỏ, cho phép doanh nghiệp sử dụng người thân trong gia đình làm kế toán, không còn bắt buộc bố trí kế toán trưởng, qua đó giúp giảm áp lực chi phí và phù hợp hơn với thực tế vận hành của các mô hình kinh doanh nhỏ…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.